QĐND -  “Em có biết eng Khải chừ ở chỗ mô không rứa?”. Câu hỏi đó thường là câu bắt đầu cho cả một câu chuyện dài và thú vị giữa ba tôi - Anh hùng LLVTND Lê Duy Ứng - và nhiều chú, bác bộ đội.

Ba tôi rất quý bác Khải (Nguyễn Hữu Khải, Đại tá, nguyên Chính ủy Sư đoàn 325). Trong những ngày chiến đấu ác liệt nhất ở Thành cổ Quảng Trị, bác Khải đã giới thiệu ba tôi vào Đảng rồi lại tổ chức lễ kết nạp Đảng ngay tại chiến hào. Đối với ba tôi, đó là trang mới của cuộc đời. Vậy nên cứ có người từ Quân đoàn 2 về thế nào ba tôi cũng hỏi thăm về bác Khải.

Trước năm 1991, gia đình tôi ở Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Nhà tôi luôn là “trạm giao liên” đón tiếp bộ đội ở Quân đoàn 2 về. Thời đó tàu xe đi lại rất khó khăn, bộ đội về tranh thủ, hoặc trở lại đơn vị trả phép thường ghé qua ở nhờ một vài đêm, có chú không may nhỡ tàu thì ở cả tuần. Đó là dịp tôi rất khoái.

Hễ bộ đội đến nhà là ba tôi rộng cửa đón tiếp. Lòng tin đặt hết cả vào bộ quân phục tuềnh toàng, chiếc ba lô đượm màu nắng gió. Thời đó chuyện bọn lưu manh côn đồ giả danh bộ đội đi gạt người cũng không hiếm. Mẹ tôi thì sợ, ba tôi thì không bởi đơn giản là trong câu chuyện trao đổi ban đầu, ông dường đã nắm rõ lý lịch, tâm tính từng người. Những đêm có bộ đội đến nhà, tôi được ngủ cùng ba, cùng chú bộ đội mà tôi cũng rất quý mến. Trong cái sự quý mến của tôi có một chút lười nhác của trẻ con. Các chú bộ đội thường rất siêng năng, giành hết việc nhà của tôi. Sau này nhập ngũ rồi, tôi cũng học các chú trong trường hợp như vậy. Nhưng, điều làm tôi thích nhất là nghe chuyện chiến trường. Trong những đêm đông giá rét, nằm nép mình bên một chú bộ đội thấy yên tâm, ấm áp, tha hồ tưởng tượng theo những câu chuyện về một vùng đất xa xôi nào đấy. 

Hai cựu chiến binh, thương binh: Lê Duy Ứng (trái) và Phạm Văn Quang (phải) là chiến sĩ Thành cổ Quảng Trị, lần đầu gặp mặt trong Tết Giáp Ngọ - 2014.

Trong số các chú ở nhà tôi lâu nhất tôi nhớ có chú Thu về Hà Nội học nghề may mấy tháng trước khi xuất ngũ. Chú Thu là bộ đội lâu năm, biết nhiều người cùng đơn vị của ba tôi, lại là người đồng hương nên ba tôi hay ngủ cùng để tâm sự. Câu chuyện của hai người đưa tôi vào giấc ngủ chập chờn. “Em có biết eng Khải chừ ở chỗ mô không rứa?”, tôi lại choàng tỉnh chờ một câu chuyện mới.

Cuối cùng thì tôi cũng gặp được bác Khải. Vị chính ủy oai hùng của ba tôi không như tôi tưởng. Bác gày, nhỏ, ánh mắt hiền từ dưới đôi lông mày võ tướng. Đó là dịp Tết của một năm rất lâu rồi bác được về tranh thủ, cha con tôi vô tình đến thăm. Bác chân đất, chạy ra tận sân dắt cha con tôi vào. Hai người kể chuyện bắt cá, chuyện đi xin giấy, xin mực trong chiến trường Quảng Trị, kể chuyện đồng đội ai còn, ai mất, ở đâu. Biết được dòng thông tin nào đó về đồng đội, ba tôi lại hào hứng thu xếp đi thăm. 

Hôm Tết vừa rồi bác Khải từ Canh Nậu (Thạch Thất, Hà Nội) ra thăm gia đình tôi, nhân đó cũng chúc mừng ba tôi được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. Giờ cả hai đã về hưu với quân hàm Đại tá, cuộc sống kể như cũng đủ đầy. Bác tâm sự: “Hồi ở Quảng Trị, bọn mình học từ Lê Duy Ứng nhiều lắm”. Tôi bật cười bỗ bã nói xen vào: “Sao chỉ huy lại phải học chiến sĩ ạ?”. Bác Khải nói từng câu rành rọt: “Học tinh thần dũng cảm, học cả cách yêu thương đồng đội, yêu thương mọi người và đặc biệt là niềm tin kiên định”. Ba tôi cười, nói gạt đi: “Bác học nghề đánh cá của em là chính xác rồi”. Bác Khải nói tiếp: “Đấy, như chuyện đánh cá ở chiến trường vậy, cứ dứt bom đạn là Ứng ra sông kiếm cá cải thiện bữa ăn cho đơn vị. Một chi tiết nhỏ ấy thôi cũng nói lên nhiều điều. Có lần Ứng ốm quá, trận địa lại bị đánh phá ác liệt, mình dùng mệnh lệnh bắt về tuyến sau. Ứng vừa đi được một chốc, cả trận địa bị pháo dập tơi bời. Mình nằm trong hầm lo cho Ứng, nhưng vừa dứt tiếng đạn đã thấy Ứng ở cửa hầm với cây xẻng đào bới tìm người”. Tôi nhìn cha bâng khuâng ngưỡng mộ. Hôm nay mới biết thêm những chi tiết mà ba tôi bỏ quên trong cuộc đời. Tôi ngắm nhìn bác Khải, những câu nói ấy đã xóa nhòa ranh giới “thủ trưởng” và “em” của hai người.

Ba tôi thích kể chuyện, ưa tâm sự. Thường thì ông hay kể về đồng đội. Như trường hợp bác Đinh Viết Chính ở Yên Mô (Ninh Bình) - người mà tôi từng có dịp đưa ba về thăm. Trong kháng chiến chống Pháp, bác Chính bị địch bắn một phát súng trường giữa ngực, thủng từ đằng trước ra đằng sau, nhưng may mắn không chết. Về gặp, ba tôi cứ nằn nì để bác cởi áo cho tôi xem. Rồi còn nhiều người đồng đội của ba tôi nữa, như bác Hồ Chí Quyết ở Diễn Tháp (Diễn Châu, Nghệ An) là y tá của Trung đoàn 66 đã ôm cha tôi ra khỏi nhà xác sau khi bị thương. Như chú Trần Lê An, người học trò nghề họa đầu tiên của cha tôi trong chiến trường sau này trở thành họa sĩ có tiếng. Như chú Đinh Thế Huynh - một chiến sĩ trinh sát trẻ nhất tiểu đội mà gan dạ, giờ thi thoảng cho ba tôi đi nhờ xe họp mặt đồng ngũ… Và còn rất nhiều đồng đội khác... Bao giờ ba tôi cũng nhớ những mặt tích cực của đồng đội mình, hay nói cho đúng, trong lòng ông đồng đội bao giờ cũng là những con người toàn vẹn nhất.

Có một chuyện nhỏ, lâu rồi mà nay tôi vẫn nhớ, ấy là cái hồi gia đình tôi còn ở Thanh Nhàn. Bộ đội về ghé qua nhiều. Thời đó cơm gạo còn khó khăn lắm, chiến trường vẫn chưa ngơi tiếng súng. Mẹ tôi tính “căn cơ”, nhân bữa nọ bỏ bột mỳ ra hấp, ý chừng tin rằng dạ dày bộ đội khỏe, tiêu thụ bớt phần lương thực được mậu dịch quy đổi thay gạo này. Ba tôi nhỏ nhẹ nhắc "Lần sau nấu cơm cho các chú. Trên chiến trường còn ác liệt, gian khổ lắm, nay sống, mai chết, biết đâu"? Mẹ tôi khóc. Và từ đó mỗi khi có bộ đội tới nhà, anh em chúng tôi không phải ăn bột mì hấp.

Tôi nhớ mãi lần ông nội tôi bật khóc khi thấy ba tôi đeo quân hàm Đại úy. Chín năm kháng chiến chống Pháp ông tôi chỉ là chiến sĩ, tài sản ông quý nhất là chiếc ba lô gói vuông và chiếc áo trấn thủ. Ông nói cả đời đánh Pháp chưa từng thấy mặt tay quan ba nào, vậy mà con mình giờ đã thành Đại úy. Ông giờ khôn thiêng nơi suối vàng hẳn sẽ tự hào với con với cháu đều là những sĩ quan quân đội. Quân ngũ nhà mình đã 3 đời, truyền thống gia đình con cháu noi gương ông, ông ơi!

Gia đình tôi có ba đời làm bộ đội. Ông đánh thực dân Pháp, cha đánh đế quốc Mỹ, cháu xây dựng và gìn giữ hòa bình… Ở đất nước Việt Nam ta, những gia đình như thế có rất nhiều. Khoác trên mình màu xanh áo lính là truyền thống, là niềm tự hào của gia đình, dòng họ và quê hương. Truyền thống đó trải khắp và trở thành văn hóa trong mỗi gia đình. Truyền thống của gia đình, của làng nước đã hòa vào làm một, kết tinh thành giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ.

Bài và ảnh: LÊ ĐÔNG HÀ