Thiếu nữ Ê Đê trình diễn trong lễ hội mừng lúa mới.

Thời tiết trong những ngày diễn ra Festival văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên 2007 không thuận lợi, nhưng lễ hội vẫn thật sôi động. Từ trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột cho đến buôn làng ở Bản Đôn, ở đâu cũng ngân vang nhịp chiêng, ngất ngây men rượu cần, đắm say vòng xoang và náo nức lễ, hội truyền thống.

Tưng bừng ngày hội

Chưa bao giờ Buôn Ma Thuột tụ hội một số lượng lớn nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu văn hóa, nhà báo và du khách thập phương như những ngày diễn ra Festival văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên 2007. Và cũng chưa khi nào lại có nhiều hoạt động văn hóa cùng một lúc diễn ra ở nhiều địa điểm như những ngày lễ hội. Với những nghệ nhân, diễn viên là người dân tộc thiểu số Tây Nguyên, niềm vui như được nhân lên. Trong số hơn một nghìn nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu tham gia các hoạt động của Festival, chúng tôi tìm gặp và hỏi chuyện những nghệ nhân trẻ tuổi đến từ huyện Krông Ana (Đắc Lắc). Tuy tuổi đời chỉ mới 13-14, nhưng từ suy nghĩ đến việc làm của các nghệ nhân trẻ người Ê Đê như H’Đâm Niê, H’Chi Niê, H’Tron Êban, H’Đao Êban, H’Vát Kbin và H’Nhịp Ênuôl đã thể hiện rõ trách nhiệm với văn hóa truyền thống của dân tộc mình: “Bọn em học được lời hát, lời chiêng từ ông bà mình. Tại Festival này bọn em có cơ hội thể hiện những gì đã học được, góp phần giới thiệu với mọi người về những sinh hoạt văn hóa truyền thống của dân tộc mình”.

Hòa vào dòng người trong lễ mừng mùa, lễ cúng sức khỏe cho voi và xem thiếu nữ dệt thổ cẩm ở buôn Kô Thông, thành phố Buôn Ma Thuột, chúng tôi đã có dịp trò chuyện cùng nghệ nhân K’Nham, dân tộc M’nông đến từ buôn Pu Sóp, xã Đắc Nia, thị xã Gia Nghĩa (Đắc Nông). Theo lời K’Nham, đoàn của tỉnh Đắc Nông có 50 nghệ nhân tham gia Festival, và dàn dựng nhiều tiết mục văn hóa dân gian. Niềm vui của K’Nham là tại Festival này lời chiêng của đồng bào M’nông ở Nam Tây Nguyên đã được đội nghệ nhân Đắc Nông trình diễn giới thiệu với mọi người...

Giao lưu tại Festival văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, 24 thành viên trong đoàn nghệ thuật Quốc gia Hàn Quốc mang đến 5 tiết mục văn nghệ truyền thống đặc sắc của lễ cầu mưa thuận gió hòa. Bà Kang Hye Sook, đại biểu Quốc hội đặc trách văn hóa, Trưởng đoàn nghệ thuật Quốc gia Hàn Quốc tại Festival văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên không giấu suy nghĩ của mình: “Được trực tiếp xem, nghe các bạn biểu diễn cồng chiêng ở không gian buôn làng Tây Nguyên, tôi thực sự ấn tượng và thấy UNESCO đã đúng khi chọn Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên để trao chứng nhận Kiệt tác của nhân loại. Từ những hoạt động như thế này, tôi tin rằng các bạn sẽ tìm ra cách làm đúng để bảo tồn và phát huy những sinh hoạt văn hóa truyền thống”.

Tìm lại không gian diễn tấu cồng chiêng

Một hoạt động tại Festival văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên thu hút nhiều nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý văn hóa và nghệ nhân tham gia đó là Hội thảo khoa học “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy”. Các báo cáo tham luận trình bày tại hội thảo này tập trung bàn về chức năng nhạc khí của cồng chiêng Tây Nguyên. Tâm sự của các nghệ nhân Y Đriu H’Mốk, và Y Tang Zé, đến từ huyện Lắc (Đắc Lắc) gợi cho chúng tôi nhiều suy nghĩ: “Mang chiêng đi tham gia hội diễn trong và ngoài nước, diễn tấu trên sân khấu cũng như ở đường phố cũng tốt, vì giới thiệu cho nhiều người hiểu được sinh hoạt văn hóa cồng chiêng. Nhưng nói thật, lời chiêng khi ấy nghe không có hồn, không còn cuốn hút nữa. Với đồng bào thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên chúng tôi, chiêng chỉ thực sự có hồn khi được diễn tấu trong không gian của núi rừng, của buôn làng, và tại các lễ cúng, lễ mừng..., và đương nhiên khi diễn tấu chiêng không thể thiếu rượu cần”.

Trong lần trao đổi về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên gần đây, nhà văn Nguyên Ngọc đưa ra ý kiến: “Tôi thấy UNESCO rất tinh khi họ công nhận và tôn vinh không phải là cồng chiêng, cũng không phải là âm nhạc cồng chiêng mà Không gian văn hóa cồng chiêng. Vậy không gian văn hóa cồng chiêng là gì? Đó chính là không gian rừng của làng, bởi ở Tây Nguyên từ xa xưa rừng bao giờ cũng là rừng của làng, của từng làng. Con người là con người của rừng, của làng mình. Tất nhiên không gian đó không chỉ là không gian vật chất, mà còn là không gian tinh thần, thậm chí không gian tâm linh. Cồng chiêng là tiếng nói của cộng đồng trong giao tiếp thiết yếu với thần linh. Ở buôn làng Tây Nguyên khi người ta tấu chiêng lên thì cũng giống như người Kinh kính cẩn thắp hương lên bàn thờ: đó là khi con người có nhu cầu thưa gửi những tâm sự sâu kín nhất, những nguyện vọng khẩn thiết nhất của mình với thần linh... Tách ra khỏi không gian tinh thần và tâm linh ấy, cồng chiêng chỉ còn là xác cồng chiêng, là cồng chiêng chết, cồng chiêng dỏm”.

Còn Giáo sư Trần Văn Khê đưa ra đề xuất: “Chính phủ phải giúp các nghệ nhân không quá bận tâm về việc kiếm sống, để họ có thời gian cho công việc bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Bởi mỗi một nghệ nhân mất đi, giống như một thư viện, một bảo tàng văn hóa bị cháy! Nếu không tranh thủ được khi các nghệ nhân còn sống thì thật đáng tiếc. Cần giúp cho các cụ chuyên tâm vào việc bảo tồn, truyền dạy, bảo vệ cồng chiêng trước nhiều lớp sóng văn hóa ngoại lai”.

Cùng những trăn trở về môi trường diễn xướng cồng chiêng, GS-TSKH Tô Ngọc Thanh cho rằng: “Trong điều kiện xã hội ngày nay, cồng chiêng Tây Nguyên đang mất dần đi cơ sở và môi trường xã hội mà từ đó và vì đó nó được sáng tạo, tồn tại và phát triển. Ngày xưa người Ba Nar trồng lúa trên rẫy nên có lễ cầu an cho lúa sau khi làm cỏ gọi là Smah Quai, khi thu hoạch có lễ ăn cốm gọi là Sa Mơk. Trong cả hai lễ này, cồng chiêng đóng vai trò chủ đạo cho cuộc lễ và cho hàng múa Soang của các cô gái. Nay đồng bào trồng cà phê, trồng hồ tiêu. Liệu có còn cần làm lễ Smah Quai, Sa Mơk không? Theo tôi, cồng chiêng không mất đi theo các lễ đó, vì ngay từ khi ra đời cồng chiêng đã mang hai chức năng tâm linh và nghệ thuật. Do vậy cồng chiêng chẳng những không mất đi mà còn tồn tại và trở thành một bộ phận hữu cơ của nền văn hóa đương đại”.

Sân khấu hóa-Nên chăng?

Nhìn lại Festival văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên 2007, chúng tôi nhận thấy rằng tỉnh Đắc Lắc đã có nhiều cố gắng và đưa ra sáng kiến rất hay nhằm mục đích quảng bá, bảo tồn văn hóa cồng chiêng. Và quả thực nếu Festival cồng chiêng được duy trì đều đặn 2 năm một lần thì thật đáng quý. Bởi hiệu quả của hoạt động văn hóa không thể đo đếm bằng tiền bạc, cũng không thể đạt được tức thời. Nhưng con số 15 tỷ đồng chi phí cho 4 ngày tổ chức Festival văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên 2007 quả thực để lại cho chúng tôi nhiều suy nghĩ. Vì nếu xét về hiệu quả văn hóa, về mặt bảo tồn Không gian văn hóa cồng chiêng thì chưa đạt được như mong muốn của chính người dân Tây Nguyên. Bởi trong những ngày diễn ra lễ hội, trừ một vài hoạt động ở buôn Ko Thông, còn lại phần lớn công việc của các nghệ nhân đã bị sân khấu hóa. Và hình như mục đích của những người làm chương trình này còn thiên về kinh tế! Nên khi Festival khép lại thì cả Tây Nguyên không có thêm một bộ chiêng mới, vẫn thiếu không gian đích thực cho diễn tấu cồng chiêng, không một lễ cúng nào, một bài chiêng nào được sưu tầm thêm,...(!). Với kinh phí từng ấy, theo chúng tôi, giá như được đưa xuống các buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số-nơi mà hồn chiêng đã và đang tồn tại, để đồng bào tự đứng ra phục dựng lễ, diễn tấu chiêng, múa hát dân ca và kể sử thi, thay cho diễn tấu cồng chiêng ở phố phường, trên sân khấu và trong khu du lịch thì tốt hơn nhiều. Còn nữa, thay vì để du khách trong và ngoài nước lưu lại trong khách sạn, ăn uống ở nhà hàng nên đưa họ về ở chính trong buôn làng của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, nghe nhịp chiêng diễn tấu ở chính không gian buôn làng, đắm mình vào các nghi lễ và sinh hoạt truyền thống, tìm hiểu tập quán lao động sản xuất và thưởng thức các món ăn của cư dân bản địa, chắc sẽ tạo sự hấp dẫn khác biệt! Mong sao, Festival lần sau sẽ có thêm phương thức đưa cồng chiêng trở về không gian diễn xướng đích thực, để lời chiêng thực sự có hồn.

Bài và ảnh: KIỀU BÌNH ĐỊNH