Quê tôi là một vùng đồng chiêm trũng của tỉnh Ninh Bình. Từ đời ông, đời cha đã phải sống chung với lũ với lụt, đã phải oằn lưng chịu những cảnh như vỡ đê, xả lũ, tràn lũ, lụt lội kéo dài. Những cảnh “chiêm khê, mùa thối”, “sáu tháng đi bằng chân, sáu tháng đi bằng tay”... là những cảnh thật quen thuộc với người đồng chiêm quê tôi. Có câu ca tự thuở nào nghe mà còn ngậm ngùi, thương cảm:

Gia Viễn nước trắng đồng trong

Lúa gạo thì ít, rêu rong thì nhiều.

Rồi Con trâu đói lòng gặm cả mái tranh...

Vì vậy hết đời này qua đời khác, không mấy nhà là không có chiếc thuyền nan. Dân đồng chiêm xưa sắm thuyền nan như bây giờ người ta sắm xe đạp, xe máy. Không, còn hơn thế, bởi xe đạp, xe máy chỉ là phương tiện đi lại, còn thuyền nan không chỉ là phương tiện đi lại trong mùa lụt mà còn là phương tiện sản xuất, là phương tiện cứu hộ những khi lũ lụt. Lũ lụt đồng chiêm thật là bất thường. Có khi chỉ hai, ba ngày mưa tầm tã là nước đã dâng lên, rồi lũ thượng nguồn cuồn cuộn đổ về. Cái rốn nước đồng chiêm thì chỉ có nước tứ phương đổ đến, chứ biết san sẻ đi đâu. Có khi một đêm nước vỡ đê, tràn đê là đã ngập trắng khắp vùng... Làng làng như hòn đảo nổi, nước ngập đến lưng nhà... Lúc ấy nhà nào không có lấy một chiếc thuyền nan thì thật đến nguy...

Thuyền nan đồng chiêm là thuyền chỉ dùng đi gần trong vùng. Thuyền được đan bằng tre, xưa người ta sảm thuyền bằng vỏ cây sắn (còn gọi là cây sắn thuyền) giã với quả cậy. Cây sắn lấy vỏ sảm thuyền là loại cây lá nhỏ như lá chè nhưng không có răng cưa, cây thân gỗ, có thể to tới một người ôm, quả nhỉnh hơn quả mồng tơi, chín đỏ mọng, ăn ngọt. Còn quả cậy thì có nhựa. Hai thứ này trộn với nhau giã nhuyễn sảm thuyền rất tốt, nước không rò vào được. Có những chiếc thuyền cũ đã hỏng mà vỏ sắn sảm thuyền vẫn còn bám rất chắc. Ngày nay nhiều người đã dùng xi măng để thay vỏ sắn sảm thuyền.

Thuyền nan có nhiều loại. Có loại lớn dùng để chở khách thì ngồi được đến hơn chục người. Có loại vừa thì sáu, bảy người ngồi được, thường dùng cho gia đình. Có loại nhỏ, dài chỉ chừng hai mét thì kéo ra ruộng để chuyên chở lúa ở ruộng lên bờ, hoặc chở phân bón từ bờ rải ra khắp ruộng. Loại này không có mái chèo mà chỉ dùng sức người đẩy hoặc kéo bằng tay. Ngày nay loại thuyền này nhiều nhà đã làm bằng tôn, cũng rất nhẹ nhàng và bền chắc. Lại có loại nhỏ hơn chỉ ngồi nổi một, hai người, gọi là thuyền câu để ngồi đi câu hoặc thả lưới... Loại này mái chèo chỉ ngắn chừng năm, sáu mươi phân, cũng không có cọc chèo. Người ngồi trên thuyền chỉ việc tay cầm mái chèo bơi hai bên, trông như múa, rất đẹp mắt...

Mùa nước, những chiếc thuyền nan đồng chiêm nhẹ nhàng bơi ngang, bơi dọc, mái chèo chém nước sắc lẻm, rất ngoạn mục, nên thơ. Nhà thơ Nguyễn Khuyến có câu thơ rất đẹp về con thuyền đêm trăng vùng đồng chiêm ở quê cụ: “Con thuyền len lỏi bóng trăng trôi”... Những con thuyền lớn đồng chiêm thì có cọc chèo và hai mái chèo (còn gọi là dầm), có thuyền lại có bốn cọc chèo, bốn mái chèo, hai người cùng chèo thuyền một lúc, tất nhiên người đằng mũi thuyền phải chèo ngược lại với người cuối thuyền. Ngoài ra, thuyền nào cũng có một, hai cây sào để chống, đẩy hoặc ép giữ thuyền khi thuyền đậu bờ.

Người đồng chiêm rất giỏi chèo thuyền. Ngoài chèo tay, người nào cũng chèo thuyền được bằng chân. Khi chèo chân người phải ngồi ngả ra sau, hai tay chống xuống sạp thuyền để đỡ người, mà con thuyền cứ lao vun vút. Lái cũng lái bằng mái chèo. Muốn thuyền rẽ bên trái thì chỉ việc chèo hoặc đạp mạnh mái chèo bên phải và ngược lại... Trẻ em vùng đồng chiêm xưa chín, mười tuổi đã biết chèo thuyền bằng tay, bằng chân rất thành thục, điệu nghệ...

Sau buổi đi cấy cày về, những chiếc thuyền nan nhỏ người ta có thể vác, đội trên đầu đi về nhà. Có nghệ sĩ nhiếp ảnh đã chụp được bức ảnh nghệ thuật năm, sáu người cùng đội thuyền đi về làng. Những chiếc thuyền nghiêng nghiêng đổ bóng, phía dưới chỉ thấy từng đôi chân trần, trông xa cứ như những con rùa chậm rãi tiến bước. Một hình ảnh thật độc đáo mà chỉ vùng đồng chiêm trũng mới có.

Hết mùa nước, những chiếc thuyền lại được đánh rửa sạch sẽ phơi khô rồi gác lên chái nhà hoặc chuồng trâu, chuồng lợn, vụ sau dùng đến, nếu thuyền bị hư hỏng, rò rỉ thì sảm lại, không thì cứ thế tiếp tục hạ thủy...

Ngày nay vùng đồng chiêm quê tôi có hệ thống đê điều vững chắc, có những trạm bơm lớn, lũ lụt đã bị khống chế... Nhưng nhiều năm vẫn còn xảy ra lũ lụt nên những chiếc thuyền nan vẫn còn vô cùng cần thiết với mỗi gia đình. Nhiều nhà vẫn có thuyền phòng bị, không thể coi thường chủ quan. Những chiếc thuyền nan đồng chiêm ngày nay, không ngờ lại còn là phương tiện tuyệt vời đối với khách du lịch. Ba bốn người ngồi trên con thuyền lướt êm êm, tai nghe sóng nước rì rào, nghe tiếng mái chèo khua nhẹ, mắt đắm say ngắm cảnh sơn thủy hữu tình của một vùng “Hạ Long trên cạn” thì còn thú gì bằng, nhất là khách du lịch nước ngoài. Họ thích thú, họ mê chiếc thuyền nan vùng đồng chiêm của quê tôi lắm. Tam Cốc-Bích Động, Vân Phong, Tràng An bây giờ không còn được nhắc đến như những vùng quê nghèo mà là những khu du lịch sinh thái hấp dẫn gắn với hình ảnh những chiếc thuyền nan.

THANH THẢN