Mùa thu năm Mậu Tý (2008), tôi từng có hai ngày ở Chí Linh (Hải Dương), nhưng do bận theo việc quân cơ của một đơn vị đứng chân trên địa bàn này nên chưa có thời giờ thanh thản neo hồn vào không gian thanh tịnh của rừng thông gió trúc bên bờ suối đá Côn Sơn. Khi xe quân sự đi qua cung đường gần đền thờ Nguyễn Trãi, ánh mắt tôi lặng lẽ hướng nhìn “Ức Trai linh từ” tỏ lòng thành ngưỡng vọng anh linh vị đại công thần nhà Hậu Lê đã hóa thân vào cỏ cây non nước Côn Sơn suốt gần 6 thế kỷ mà nỗi đau oan khuất vẫn như tiếng xé lòng của lịch sử, còn tiếng thơm về tình yêu nước thương dân sắt son tỏa ngát muôn đời sau.
Thời gian như gió thoảng qua. Vô số việc chung riêng cùng nỗi lo cơm áo như cuốn vào một hành trình bất tận mà đôi khi tự biến mình thành cỗ máy đâu hề hay biết. Chỉ khi đến tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh”, thăng trầm từng trải, tôi tự dặn lòng mình sống chậm rãi hơn để chiêm nghiệm hay-dở, hơn-thiệt, được-mất trong lẽ đời. Và sau bao năm rong ruổi trong kiếp nhân sinh, tôi trở lại Côn Sơn vào đúng dịp TP Hải Phòng tổ chức Lễ tưởng niệm 584 năm Ngày mất của Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi (1442-2026).
Ngày 16 tháng Tám năm Bính Ngọ (2026), thời tiết giữa thu trong veo, nắng vàng hanh hao, xe từ Hà Nội theo Quốc lộ 18 chạy bon bon hướng về Chí Linh. Khi xe qua cầu Bình Than bắc qua sông Đuống, chợt nhìn thấy chữ “Bến Bình Than” trên bảng chỉ đường, lòng tôi lao xao khi biết mình đang chạm vào một địa danh thiêng liêng của lịch sử dân tộc. Thời điểm ấy, trên nền trời xanh thẳm bỗng xuất hiện mấy đám mây đen lơ lửng che khuất mặt trời, không gian dịu mát dần. Khoảng chục phút sau, khi xe vừa đến địa điểm có bảng chỉ dẫn vào Khu di tích Quốc gia đặc biệt Côn Sơn-Kiếp Bạc, khung trời trở nên âm u rồi lác đác mưa rơi.
 |
| Tác giả thể hiện lòng thành kính tại đền thờ Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. Ảnh: THẢO HUYỀN |
Trời đất tưởng vô tình mà cũng thật “hữu duyên” với nhân tình. Những hạt mưa lâm thâm không đủ làm ướt áo khách thập phương nhưng cũng khiến bao đôi chân bước vào đền thờ Nguyễn Trãi thêm trĩu nặng. Giữa không gian bạt ngàn màu xanh ngăn ngắt của cỏ cây, đồi thông rừng trúc, những vần thơ “Côn Sơn ca” của Nguyễn Trãi nằm lòng từ thời học sinh phổ thông bỗng ùa về trong tâm trí tôi: “Côn Sơn suối chảy rì rầm/ Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai/ Côn Sơn có đá rêu phơi/ Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm/ Trong ghềnh thông mọc như nêm/ Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm/ Trong rừng có bóng trúc râm/ Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn”.
Như kẻ mộng du đang mơ màng hòa vào mạch nguồn thi hứng mà bậc tiền nhân từ thế kỷ 15 đã tạo tác một bức tranh thiên nhiên Côn Sơn trác tuyệt gửi lại muôn đời hậu thế, tôi chợt bừng tỉnh bởi những vần thơ của Trần Đăng Khoa thốt lên từ năm 1968 lại dội về ào ạt trong miền sâu thẳm: “Bỗng đâu vang tiếng sấm rền/ Tỉnh ra em thấy trong đền đỏ hương/ Ngang trời kêu một tiếng chuông/ Rừng xưa nổi gió, suối tuôn ào ào” ("Đêm Côn Sơn"). Phải chăng, khung cảnh thiên nhiên nổi lên dồn dập bởi tiếng sấm rền vang, tiếng chuông ngang trời, gió rừng thổi mạnh, suối tuôn ào ào như những âm thanh dữ dội gợi nhắc nỗi đau thấu trời và nỗi oan khiên xuyên thế kỷ mà Nguyễn Trãi từng chịu đựng?
Cái chết bi thảm của Nguyễn Trãi trong vụ án Lệ Chi viên xảy ra tháng Tám năm Nhâm Tuất (1442) từng được Thủ tướng Phạm Văn Đồng “giải mã” là do “Nguyễn Trãi nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá!”. Lời nhận định đó không những khái quát trọn vẹn nhân cách thanh tao, tâm hồn thanh sạch của người anh hùng dân tộc thuở “bình Ngô” mà còn là thấu cảm tận cùng nguồn gốc sâu xa bi kịch của một bậc đại nhân, đại chí, đại dũng đã bị chế độ phong kiến hà khắc đương thời đố kỵ mà bức hại đến thảm khốc. Bi kịch của Nguyễn Trãi suy cho cùng cũng là bi kịch của kẻ sĩ trung thần vốn là “kẻ thù không đội trời chung” của lũ gian thần thời quân chủ chuyên chế mà mỗi khi nhắc đến, hậu thế chưa bao giờ khôn nguôi day dứt: “Nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu/ Tiếng gươm khua, tiếng thơ kêu xé lòng” (“Bài ca mùa xuân 1961”, Tố Hữu).
Đối với những kẻ tầm thường, cái chết là chấm dứt sự sống. Nhưng với những bậc tài hoa như Nguyễn Trãi, “thác là thể phách, còn là tinh anh” (Nguyễn Du), thân xác có thể hóa thành cát bụi, nhưng tinh thần, giá trị, tư tưởng bất tử cùng thời gian. Nguyễn Trãi đã ra đi gần 6 thế kỷ, nhưng tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước, thương dân của ông, cùng với những trước tác “Bình Ngô đại cáo”, “Quốc âm thi tập”, “Dư địa chí”... là những báu vật để lại cho hậu thế, cho dân tộc, cho nước non ngàn năm.
Đặc biệt, với kiệt tác “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi đã khắc vào lịch sử văn chương dân tộc một tượng đài “thiên cổ hùng văn” và lưu lại một dấu mốc rực rỡ trong lịch sử tư tưởng Việt Nam bởi ông không chỉ tiếp tục tuyên bố chủ quyền quốc gia bằng cương vực núi sông bờ cõi, ý thức chính trị, lập trường dân tộc mà Lý Thường Kiệt khẳng định trước đó 400 năm mà còn là người đầu tiên xác quyết “chủ quyền văn hóa” của Đại Việt bằng cả nền văn hiến, lịch sử, phong tục và nhân tài. Thời nay, hầu hết các quốc gia-dân tộc đang tìm mọi cách để phòng ngừa sự đồng hóa, giữ gìn cội rễ truyền thống, thuần phong mỹ tục, bản sắc dân tộc, thì tư tưởng về “chủ quyền văn hóa” và “sức mạnh mềm” của quốc gia mà Nguyễn Trãi nêu ra cách nay gần 600 năm, mới càng thấy tầm nhìn vượt thời đại của ông.
Dẫu trải qua bao “sóng dập gió vùi” từ thời cuộc, thân xác Nguyễn Trãi có thể không toàn thây khi về với thế giới bên kia, nhưng chính sự sòng phẳng, công bằng của lịch sử đã trả lại cho ông sự toàn bích về một tấm gương trung kiên lẫm liệt rạng danh cùng non sông gấm vóc, như lời nhận định của Vua Lê Thánh Tông (1442-1497): “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”. Đã 584 năm trôi qua, tấm lòng với non nước, với muôn dân của Nguyễn Trãi không chỉ rạng ngời lấp lánh như Sao Khuê, chữ nghĩa của ông không chỉ soi sáng văn chương, văn hóa dân tộc, mà từ sự nghiệp kinh bang tế thế lẫy lừng đến cuộc đời thăng trầm, số phận chìm nổi của ông như lời nhắc nhớ, thức tỉnh lương tri mỗi con người, mỗi thể chế chính trị, mỗi xã hội, mỗi thời đại đừng quên “Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân” (Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân), bởi “Phúc chu thủy tín dân do thủy” (Lật thuyền mới biết dân như nước).
Sinh thời, khi về ở ẩn tại động Thanh Hư trên miền đất thanh vắng Côn Sơn, Nguyễn Trãi từng bộc bạch, cảm khái nỗi niềm nhân tình thế thái bằng những vần thơ đầy chiêm nghiệm: “Trăm năm trong cuộc nhân sinh/ Người như cây cỏ thân hình nát tan/ Hết ưu lạc đến bi hoan/ Tốt tươi khô héo, tuần hoàn đổi thay/ Núi gò đài các đó đây/ Chết rồi ai biết đâu ngày nhục vinh/ Sào, Do bằng có tái sinh/ Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn” ("Côn Sơn ca").
Trong quan niệm của Nguyễn Trãi, cõi đời trăm năm, kiếp đời khác chi cây cỏ, hết buồn lại vui, ngọt bùi rồi cay đắng, tươi tốt rồi héo khô... Đấy là sự tuần hoàn nối tiếp nhau trong kiếp nhân sinh vậy. Thế nên, Nguyễn Trãi về với Côn Sơn nhằm theo gương hai cao sĩ Sào Phủ và Hứa Do trong triều đại lịch sử truyền kỳ vua Nghiêu (Trung Quốc) không màng công danh, thích cuộc đời ẩn dật, đồng thời tự biểu lộ nỗi niềm sâu kín của mình là được trở về Côn Sơn để thoát vòng danh lợi và sống chan hòa với đất trời thiên nhiên.
Thấu hiểu nỗi lòng sâu sắc của bậc tiên sinh, hậu thế đã góp công, góp sức dựng xây đền thờ Nguyễn Trãi (Ức Trai linh từ). Khánh thành vào đúng dịp kỷ niệm 560 năm ngày mất của Nguyễn Trãi (1442-2002), ngôi đền như một bông hoa thơm giữa núi rừng Côn Sơn thanh tịnh. Trong âm thanh rừng reo suối chảy, tâm hồn và khí phách người anh hùng thuở “bình Ngô” được non nước Côn Sơn hữu tình như ôm trọn vào lòng để muôn đời con cháu về đây chiêm bái, chiêm ngưỡng vầng hào quang tỏa sáng từ ánh Sao Khuê của dân tộc.
Trong không gian ngôi đền trầm mặc, hình ảnh Nguyễn Trãi được tạo tác tinh xảo trên bức tượng đồng an tọa với tư thế an nhiên, đầu đội mũ cánh chuồn, khuôn mặt hiền từ, chòm râu bạc trắng, đôi mắt tinh anh nhìn về bốn phương tám hướng như ôm trọn cõi nhân gian bao la thăm thẳm. Cũng như bao con dân đất Việt, vào thăm đền thờ Nguyễn Trãi, tôi đâu chỉ cảm nhận vẻ đẹp hương rừng gió núi, hồn thiêng non nước hội tụ ở Côn Sơn, mà còn được trở về giá trị nguyên bản của một tâm hồn tinh khôi, một tấm lòng thanh sạch tỏa ra từ người Anh hùng thuở “bình Ngô”.
“Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc/ Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn” ("Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng", Chế Lan Viên).
Nhờ có Nguyễn Trãi mang “tâm hồn lộng gió thời đại” thế kỷ 15 mà nền văn hóa, văn chương Việt được nâng tầm, tỏa sáng. Trong số các vị anh hùng dân tộc tiêu biểu của nước ta từ thời đại Hùng Vương dựng nước đến nay, chỉ có Nguyễn Trãi và Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là Anh hùng dân tộc, vừa là Danh nhân văn hóa. Nhấn mạnh điều đó để thấy vị thế đặc biệt của Nguyễn Trãi trong dòng chảy lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước và trong nền văn hiến hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam.
Về miền đất Côn Sơn hôm nay, hòa vào cảnh sắc thiên nhiên yên ả, ngắm nhìn khuôn viên đền thờ Nguyễn Trãi khang trang, bề thế, uy nghi, tôi thầm biết ơn tấm lòng thơm thảo của bà con xứ Đông xưa (nay là TP Hải Phòng) đã bao đời nối tiếp nhau làm trọn đạo lý hương khói chu toàn cho “Ức Trai linh từ” trở thành điểm hẹn văn hóa tâm linh - “nơi ước đến, chốn mong về” trong sâu thẳm tình cảm của đồng bào ta và người Việt bốn phương.
Chí Linh-Hà Nội, mùa thu 2026