Quán tính của thói quen là trở ngại lớn nhất đối với công việc sáng tạo của nhà thơ-nó giống như quán tính của phong tục tập quán. Nếu thực sự là một thời đại mới thì phong tục tập quán phải đổi khác, nó chỉ giữ lại những gì tinh túy nhất tựa như một thứ gen di truyền của truyền thống. Thơ văn xuôi là một hiện thực bác bỏ quán tính của thói quen. Nếu quán tính của thói quen vẫn còn, có nghĩa là tác phẩm thơ văn xuôi không có cơ hội để xuất hiện.

Mọi kỹ thuật, kỹ xảo bất lực trước thơ văn xuôi, bởi thơ văn xuôi vận hành cần tới một nguồn năng lượng lớn của cảm xúc và ý tưởng khởi lên cùng vào một thời điểm, ngôn ngữ và nhịp điệu là cái hiện ra sau chót không thể khác, mang tính ấn định từ một nguồn năng lượng được phóng ra và hiện hình từ cảm xúc, ý tưởng. Thơ ca đích thực không bao giờ cần đến yếu tố trợ giúp. Chỉ có chính bản thân nó-như một người vượt biển đơn độc, hoặc là qua bờ bên kia, hoặc là bị nhấn chìm dưới đáy đại dương bao la-Bản thân nó chính là nguồn năng lượng của cảm xúc và ý tưởng, phải bảo đảm độ tràn đầy để tạo ra sự đột khởi làm nên bài thơ.

Một nghệ sĩ sáng tác tác phẩm thơ văn xuôi, trong anh ta không bao giờ xuất hiện cái gọi là kỹ thuật như người ta thường thấy. Bởi kỹ thuật chỉ có thể trợ giúp những tác phẩm vừa vừa, những tài năng vừa vừa. Còn đối với những nghệ sĩ đích thực thì kỹ thuật tạo ra anh ta, chính nó sẽ giết chết anh ta ở chặng đường tiếp theo. Mọi sự trợ giúp đều giết chết nghệ sĩ và hủy hoại những tác phẩm lớn. Đó lại là điều kiện tiên quyết nữa.

Cái để khởi hứng của một sáng tác thơ văn xuôi đến từ cảm quan có tính khách quan, cảm quan thời đại là dòng chảy chủ lực trong hứng khởi của nhà thơ. Cái cảm quan thời đại này nó biến hóa khôn lường, muôn màu muôn vẻ trong cảm xúc của nhà thơ, và không có cách gì để có thể phân biệt được cảm xúc đến trước hay là ý tưởng đến trước tạo nên hứng khởi của nhà thơ. Cái tôi của nhà thơ luôn bồng bềnh trong cái khách thể, trôi dạt trong cái vũ trụ mênh mông cô quạnh chợt nhận ra có một kiếp người, chợt nhận ra cái sứ mệnh mà mỗi cá nhân phải gánh là số phận của chính ta với những sợi dây ràng rịt của truyền thống và hiện đại, niềm vui, nỗi buồn và khát vọng cuốn lên như những ngọn gió lớn. Thiên nhiên, cũng như những cảnh tượng của xã hội hiện đại là đối tượng không thể thiếu vắng trong cảm xúc của thơ văn xuôi. Thiên nhiên như là những biểu tượng có sức hút mãnh liệt đối với cảm hứng của nhà thơ-nó là nguồn sinh khí làm hồi lại cái nguyên khí mà đời sống hiện đại đã tách rời khỏi nó. Sứ mệnh của thơ văn xuôi là trả lại những gì đối với con người mà đời sống hiện đại đã vứt bỏ hoặc lãng quên.

Đời sống trải nghiệm của nhà thơ là một cái gì đó như một yếu tố không thể thiếu, chúng được ngấm vào từng mao mạch li ti trong toàn bộ cơ thể của bài thơ. Đời sống trải nghiệm chính là cái tinh chất của thời đại được giữ lại từ hàng ngàn những tia xạ của thời đại xuyên thấu nhà thơ qua thời gian năm tháng đời người. Những suy tư và cảm xúc xuất phát từ đời sống trải nghiệm của nhà thơ giống như thứ hổ phách quý hiếm được tiết ra và tụ lại nằm sâu dưới gốc cây thông ngàn vạn tuổi. Nếu không có sự tỏa ra từ đời sống trải nghiệm của nhà thơ, bài thơ văn xuôi sẽ thiếu vắng cái phong vị ý vị nhất mà thể thơ này có được. Đương nhiên, đời sống trải nghiệm của nhà thơ đều cần thiết đối với sáng tác của các thể thơ khác; nhưng nó được phát huy một cách hiệu quả nhất là đối với thơ văn xuôi, còn đối với thể thơ khác nhiều khi nó làm phương hại tới bài thơ ở sự xơ cứng, rất khó khắc phục.

Cách tân trong nghệ thuật cũng như các cuộc cách tân đổi mới khác trên các lĩnh vực của xã hội, luôn luôn gặp những trở ngại và thách thức to lớn. Trở ngại này trước nhất thuộc về những thói quen của số đông, sau nữa là thách thức mang tính đối địch của những nhóm người vì sự cách tân đổi mới mà vi phạm và làm tổn hại tới quyền lợi của họ, làm như họ là những người duy nhất sở hữu thời đại đó với một quyền lực vĩnh cửu. Hai trở ngại và thách thức này đổ dồn đến một lúc và dồn sức tấn công vào nơi sẽ bùng phát sự cách tân đổi mới. Cuộc đấu tranh này xảy ra như một sự tất yếu, không có sự cách tân đổi mới trên bất cứ lĩnh vực nào của loài người có thể tránh khỏi. Nhưng sự cách tân đổi mới vẫn luôn diễn ra, bởi đó là đòi hỏi của sự thôi thúc tiến trình phát triển của nền văn minh. Theo kinh nghiệm đã diễn ra trong lịch sử cho thấy, sự cách tân đổi mới luôn thuộc về thế hệ trẻ, một thế hệ làm chủ một thời đại mới-Và, rõ ràng sự cách tân đổi mới đã trao sứ mệnh cho thế hệ trẻ phải mang vác; bởi thói quen của họ sẽ được hình thành trong tương lai, và quyền lợi của họ cũng đang chờ đợi ở phía trước, ở một thời đại mới. Việc xuất hiện của thơ văn xuôi như là một đại biểu của thơ hiện đại cũng nằm trong cái dòng chảy chứa đựng những mâu thuẫn và xung đột của một cuộc cách tân đổi mới trong thi ca-cũng như các cuộc cách tân đổi mới trên các lĩnh vực của xã hội loài người trong tiến trình vận hành đẩy nền văn minh ngày một lên cao nhằm điều hòa những lợi ích của con người mà họ đã phải hy sinh cho nền văn minh đó.

Viết đến đây, tôi chợt nhận ra một điều rằng dù gắng sức để làm sáng tỏ cái đặc trưng của thơ văn xuôi khác biệt với các thể thơ ra đời trước nó, nhưng hình như cố gắng này chưa đạt được mấy yêu cầu như mong muốn và cơ hồ sức thuyết phục chưa có được bao nhiêu. Dẫu rằng, để làm sáng tỏ cái cảm nhận về một thể thơ mới như thơ văn xuôi, không bao giờ là việc dễ dàng. Nhưng, hơn lúc nào hết như lúc này, tôi thấy tôi không thể đầu hàng trước cái công việc mà tôi đã bày ra một cách dở dang. Tôi tạm dừng tại đây trong sự không yên lòng, và nhất định sẽ trở lại vấn đề có phần hiểm hóc và nan giải này trong một thời gian gần nhất.

Hà Đông, ngày 23 tháng 2 năm 2008

DƯƠNG KIỀU MINH