 |
|
Nhà thơ Nguyễn Bính. Ảnh: Tư liệu |
Nguyễn Bính quê Vụ Bản-Nam Định, nơi hằng năm vào tháng ba cuối xuân có hội Phủ Giầy rất đông thiện nam, tín nữ khắp nơi về lễ Phật, xem hội. Tuổi thơ Nguyễn Bính rất mê hội này. Từ ngày mở hội đến ngày giã hội, Nguyễn Bính không vắng mặt một ngày nào. Không một trò vui nào Nguyễn Bính bỏ qua, kể cả các buổi cúng lễ trên Phủ, dưới chùa. Một buổi Nguyễn Bính đang ngồi xem hầu bóng mà thường gọi là "lên đồng" chợt một cô gái chạc tuổi mình đi ngang qua. Cô người dong dỏng, áo dài màu cánh sen, thắt lưng hoa lý. Cô đi theo một bà dáng chừng là mẹ. Một cảm giác lạ lùng nảy sinh trong lòng Nguyễn Bính. Anh bạn thiếu niên, thần đồng thơ Nguyễn Bính cảm thấy như một tố nữ vừa từ trong tranh tứ bình bước ra. Nguyễn Bính đi theo liền. Khi rõ được mặt mày, Nguyễn Bính ngẩn ngơ như kẻ mất hồn. Thế là cả ngày hôm ấy, Nguyễn Bính trở thành "cái đuôi" của hai mẹ con cô gái. Hai mẹ con người ta vái thì cũng vái, khấn thì cũng khấn. Một đêm trằn trọc mất ngủ qua đi, hôm sau thức dậy, Nguyễn Bính lại mò ra với hội. May sao lại gặp lại được người "trong tranh", Nguyễn Bính lại tiếp tục làm "cái đuôi". Cứ thế, đến ngày thứ tư thì chàng thi sĩ thần đồng tìm cách dúi vào tay cô gái mảnh giấy có mấy câu:
Em ở cõi trần hay cõi tiên?
Phủ đền nhang khói nức hương em
Xin đi chầm chậm cho theo với
Lộc thánh dâng người một trái tim.
Cô gái nhận mảnh giấy nhưng mặt lại… ngoảnh đi. Dù sao, anh bạn thiếu niên si tình đã lấy làm "sung sướng" lắm rồi.
Không chịu buông tha, Nguyễn Bính còn bám theo cô gái về đến tận nhà. Thế rồi, mấy tháng sau Nguyễn Bính "ngựa theo đường cũ" tìm lại nhà nàng thì… ôi thôi… người xưa vắng bóng, "cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày". Dò la thì được người ta cho biết gia đình cô gặp chuyện gì đó chẳng biết phải đột ngột bán nhà rồi chuyển đi nơi khác.
Mười ba tuổi, Nguyễn Bính làm mọi người phải kinh ngạc về tài thơ của một chú bé. Năm ấy, hội Phủ Giầy tổ chức một cuộc thi thơ. Đề tài thơ là tả cảnh chọi gà, một trò chơi trong lễ hội. Mọi người còn đang cắn bút thì mới hết nửa thời gian làm bài, một chú bé đã lách mọi người vào nộp bài cho ban giám khảo. Bài thi dài hơn ba trang giấy. Không ngờ bài thi của chú bé đoạt giải nhất. Khi được công bố, hàng ngày người đã phải vỗ tay thán phục một tài thơ. Người ta phục nhất là bài thơ đã biết vận dụng hai câu ca dao "Khôn ngoan đối đáp người ngoài/Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau" làm câu kết. Đó là chú bé Nguyễn Trọng Bính. Và đây chính là bước mở đầu chú bé bước vào đời thi sĩ đầy mưa gió với bút danh (bỏ chữ lót đi) NGUYỄN BÍNH.
Chuyện một chú bé có tài làm thơ loang đi rất nhanh, bay đi rất xa. Có biết bao huyền thoại về chú bé đã ra đời. Người ta tìm đến tận nhà nhờ cậu bé "gợi ý" cho người hát trong những cuộc thi hát đối đáp. Thường là bên nào được chú bé "gà" cho thì y như rằng bên ấy thắng. Dần dần lòng ngưỡng mộ chú bé của người đời lên đến tột đỉnh. Người ta coi Nguyễn Bính là "người trời", thơ của chú bé là "Thơ tiên". Thơ đây là Tiên giáng vào. Nhiều người đã tìm đến tận nhà chú bé xin… "thơ tiên". Những đám dựng vợ gả chồng gặp trắc trở tình duyên hoặc đã thành gia thất mà làm ăn xui xẻo, thường đến "cậu" xin… "thơ tiên". Có một gia đình nghèo có cô con gái được đám nhà giàu đem lễ đến dạm hỏi. Khổ nỗi cô gái đã có người cùng làng hẹn ước. Không biết làm cách nào, bố mẹ cô gái đành tìm đến nhà cậu xin cậu… "thơ tiên". Nghe thủng câu chuyện, "thơ tiên" của chú bé giáng ngay một bài thất ngôn dài, trọng tâm ở mấy câu:
Của dầu nhiều nhưng vẫn chẳng nên
Phù vân, giả dối chẳng lâu bền
Tình em đâu phải trao thiên hạ
Dành để trai làng mới đẹp duyên.
Thế là gia đình mãn nguyện, làm theo lời "Tiên giáng".
"Thơ tiên" của chú bé còn rất nhiều. Thậm chí có cả anh chuyên nghề ăn trộm cũng đến xin "thơ tiên". Kết quả anh đã nghe theo mà… bỏ nghề.
PHÓ ĐỨC AN