1. Từ những năm cuối thế kỷ XX, bước sang thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, thơ ca đang vặn mình tiến hành một cuộc lên đường mới. Cuộc lên đường này có sự góp mặt cùng lúc ba thế hệ: thế hệ thời chống Mỹ, thế hệ hậu chiến, và thế hệ đương đại mà ta quen gọi: 8X trở đi. Phải can đảm mà nói, sứ mệnh đổi mới thơ ca không còn thuộc về những người của hai thế hệ trước nữa-những người mà chính họ cũng đã từng góp phần đổi mới thơ ca trong những năm mà họ đang còn trẻ. Họ sẽ tiếp tục làm đầy đặn, phong phú hơn những gì mà họ đã đi, đã có. Đổi mới thơ ca dứt khoát phải thuộc về lớp trẻ, đương đại, hôm nay. Dĩ nhiên cần một mở ngoặc: không một cuộc cách tân nào lại được sinh ra từ mảnh đất trống không, mà thực chất họ đã được thâu nhận trực tiếp/gián tiếp nguồn dưỡng chất từ những kinh nghiệm nghệ thuật của các thế hệ đi trước-điều mà một số người trẻ có khi vờ hoặc cố tình quên (cũng chỉ tại lỗi… “khi người ta trẻ” mà thôi!).

2. Vậy các cây bút trẻ hôm nay họ đã làm được những gì? Phải nói rằng để đánh giá về họ cho cặn kẽ, thấu đáo không phải là việc làm dễ dàng. Theo tôi nghĩ, có thể nhìn trên hai cấp độ: 1) những nỗ lực tìm kiếm, biểu đạt mới; và 2) những bài thơ hay, tiêu biểu minh chứng cho những nỗ lực cách tân đó. Bởi như Hoài Thanh đã có lần phát biểu chí lý: “… đã dở thì không tiêu biểu gì hết. Đặc sắc mỗi nhà thơ chỉ ở trong những bài hay” (1). Điều đó có nghĩa là chỉ những cái hay mới nói lên được một điều gì đó. Bây giờ muốn khẳng định những thành tựu cách tân thơ ca của một phong trào hay một tác giả nào đó, nếu không chứng minh được bằng những tác phẩm thành công cụ thể, thì sự khẳng định ấy chắc chắn thiếu sức thuyết phục.

Với cấp độ thứ nhất, tôi thấy rằng hiện nay các cây bút trẻ đang có những nhiệt tình đổi mới, có ý thức làm khác so với những gì trước đó đã có. Đó là một thái độ ứng xử nghệ thuật rất đáng trân trọng. Nhiều người đã nói đến những đổi mới về nguồn cảm xúc, dẫn đến cách cảm thụ, cách lý giải về thế giới đa dạng, phức tạp, và như vậy kéo theo sự thay đổi về hình thức thơ như kết cấu, ngôn từ, giọng điệu… Như chúng ta biết, mọi sự đổi mới nghệ thuật, suy cho cùng phải đưa ra được một hình thức mới. Đương nhiên, hình thức này phải là kết quả của một thứ nội dung bên trong có sức mạnh quyết định thôi thúc, tựa như chú gà con thúc vỏ quả trứng vỡ vụn để chào đời, chứ không phải là thứ hình thức tự chế tùy ý rồi nhét nội dung vào. Nói theo cách nói của thi pháp học, đó là hình thức mang tính nội dung.

Nếu nhìn vào thơ trẻ hiện nay trên phương diện hình thức như vậy, có thể khái quát thành mấy loại dưới đây:

- Thứ nhất, xu hướng thơ vẫn nương theo hình thức thơ tự do truyền thống, và chủ trương làm mới ở nội dung. Các tác giả này không cố ý đưa ra một hình thức thơ hoàn toàn mới, hoàn toàn phá cách so với thể thơ tự do như đã từng có, mà vẫn giữ sự thoải mái phóng túng về số câu trong bài, số chữ trong câu, thủ tiêu vần, ham diễn giải, sử dụng nhiều liên từ, quan hệ từ (và, thì, là, mà, vì thế/cho nên, tuy/ nhưng, nếu/thì…), ý thơ sáng sủa, khúc triết.

Ở xu hướng này cũng khá đa dạng trong cách tìm tòi biểu hiện. Có thể thấy mấy nhánh sau: Trung thành với dòng nhiệt lượng cảm xúc theo cách trút xả. Nếu như Hoài Thanh cho rằng, thơ chỉ có thể bắt đầu từ sự thành thực, thì đến một số cây bút trẻ hôm nay đi theo con đường trung thành tuyệt đối với cảm xúc, trút xả cảm xúc, để cho cảm xúc trào vọt ra đầu ngòi bút; có thể gọi đó là thơ của cảm xúc cực hạn. Tiêu biểu của nhánh này là Vi Thùy Linh.

Cùng đường hướng với nhánh này còn có khá nhiều cây bút khác. Thơ của họ tuy vẫn chủ yếu tựa vào cảm xúc, nhưng đã có chủ trương tiết chế cảm xúc, xen vào đó là những suy tư, chiêm nghiệm, tăng cường chất nghĩ hoặc chất ảo như Phan Huyền Thư, Văn Cầm Hải, Lê Thiếu Nhơn, Trần Lê Sơn Ý, Đinh Thị Như Thúy, Trang Thanh… Vi Thùy Linh của tập Đồng Tử mới đây cũng đã bắt đầu có chất chiêm nghiệm lắng lọc điềm tĩnh.

Một khi đã đi theo hướng này, do cảm xúc điều hành từ đầu đến cuối, nên luôn tiềm tàng một nguy cơ: bài thơ rất dễ bị nhiều/thừa lời, bộn chữ, thiếu cô đúc. Và như vậy thì sẽ khó có thể có nhiều chất gợi, mông lung, uẩn súc, “ý tại ngôn ngoại”. Khoảng trống của hư không như một đặc điểm mỹ học phương Đông, và cũng là một ưu thế của nghệ thuật phương Đông bị bỏ qua, không được chú ý, hoặc không được biết đến.

Thơ của “chất văn xuôi” thường ngày. Đây là cách định danh của nhà thơ Hoàng Hưng về trường hợp thơ Phan Thị Vàng Anh qua tập Gửi VB (2). Ở loại thơ này, các cây bút đã săn tìm, đọc ra trong muôn vàn những sinh hoạt hằng ngày với thế giới công việc và thế giới tiện nghi, đồ vật những ý nghĩa sâu xa của đời sống con người. Có thể tìm thấy ít nhiều hơi hướng này trong Căn phòng và bóng tối của Lê Mỹ Ý vừa ra mới đây. Đi theo hướng này, Phan Thị Vàng Anh đã có được những thành công nhất định. Do có một cách tiếp cận, cảm thụ thế giới độc đáo, nên như một tự nhiên, ngòi bút này tìm đến một hình thức thơ tự do, nhiều chỗ gần văn xuôi, theo cách truyền thống quen thuộc, nhưng lại không bị cũ. Không bị vướng víu bởi những cách thức làm mới bề mặt văn bản thơ, trong một số thành công của cây bút này đã đạt được phẩm chất tự nhiên, mà phẩm chất tự nhiên của thơ bao giờ cũng được coi là một giá trị không thể phủ nhận được.

- Thứ hai, một số cây bút chủ động tìm tòi cách tân hình thức văn bản thơ. Tạm chưa bàn đến chất lượng của những sự tìm tòi này, mà hãy thử xem một số kiểu loại tìm tòi, thể nghiệm:

Nhánh biểu đạt theo hình thức phân mảnh: Trên một dòng thơ, các cụm từ, ngữ bị xé lẻ ra, đứng cách quãng bằng những khoảng cách dài ngắn khác nhau. Biểu hiện của cách tìm kiếm này là những Trần Tiến Dũng, Nguyễn Thúy Hằng, Lynh Bacardi, Phương Lan, Nguyệt Phạm, Thanh Xuân, một chút ở Nguyễn Vĩnh Tiến. Dĩ nhiên, mật độ sử dụng cách thức biểu đạt này không đều nhau giữa các tác giả và trong cùng một tác giả. Nhưng theo cách biểu đạt này, họ không phải là những người đầu tiên, mà là nhà thơ Dương Tường (xem một số bài thơ được ông viết từ những năm 80 thế kỷ XX trong Thơ Dương Tường-NXB Hải Phòng, 2005).

Hướng biểu đạt theo hình thức sắp đặt: Những ngòi bút đi theo hướng này kết hợp giữa nghệ thuật ngôn từ với nghệ thuật thị giác. Một số cây bút kết hợp tranh, ảnh nền, ảnh kèm, màu nền trên diện tích bề mặt văn bản thơ; hoặc bố trí các bài thơ theo một định dạng hình học nào đó; hoặc phóng đại một số chữ, một số câu to hơn so với con chữ đại trà trên bề mặt văn bản thơ. Có thể kể ra một số cây bút thể nghiệm theo hướng này như: Nguyễn Thúy Hằng, Lê Ngân Hằng, một ít trong Ly Hoàng Ly. Hoặc một cách khác, khá độc chiêu, là trường hợp của Từ Huy với tập Chữ cái, ở đó mỗi bài thơ được bố trí thành hình một chữ cái theo mẫu tự Latin.

Cũng lại phải nói điều này, hầu hết những cách thức đó (trừ định dạng chữ cái), nhà thơ Dương Tường cũng đóng vai trò “đầu têu”: phóng đại chữ, định dạng hình học, mô hình công thức khoa học tự nhiên… trên bề mặt văn bản thơ.

PGS-TS Văn Giá