Suốt 17 thế kỷ sinh thành và tồn tại, vương quốc Cham-pa - sau khi tan rã vào cuối thế kỷ XVIII để trở thành một bộ phận của đất nước Việt Nam thống nhất-đã đóng góp vào nền văn hóa đa dân tộc Việt Nam nhiều thành tựu quan trọng. Bên cạnh nền kiến trúc và điêu khắc cao quý, văn chương Chăm nói chung hay thơ ca cổ điển Chăm nói riêng, cũng có nhiều cống hiến đặc sắc với nhiều thể loại: akayet, ariya, dammưy, panwơc pađit… Thử điểm qua vài thể loại chính của nền thơ ca này với những sắc thái đặc thù của nó.
Akayet-sử thi, là thể loại hình thành sớm hơn cả, sau văn bia ký. Tác phẩm cổ nhất là Akayet Dewa Mưno được ghi nhận đã có mặt ở Cham-pa vào đầu thế kỷ XVII. Ngoài hai tác phẩm Akayet Dewa Mưno và Akayet Inra Patra có nguồn gốc từ Hikayat Dewa Mandu và Hikayat Indera Putera của Mã Lai, người Chăm còn có Akayet Um Mưrup là một sáng tác độc lập của mình. Nhưng dù cốt truyện có sáng tạo hay vay mượn, các akayet Chăm đã tạo thành một dòng văn chương thành văn đầu tiên thoát khỏi cái bóng của văn chương cung đình từng thống ngự nền văn chương Chăm trong nhiều thế kỷ để trở thành một sản phẩm tinh thần của dân tộc được truyền bá rộng rãi trong quần chúng nhân dân.
Xét về mặt hình thức, dù các sử thi Chăm không có được cái tầm vóc đồ sộ của sử thi Ấn Độ hay các tác phẩm cùng thể loại của các nước trong khu vực, nhưng chúng luôn đạt tới một bố cục gẫy gọn và cô đúc. Điều cốt yếu là chúng đã nêu bật được hành động và tính cách anh hùng của nhân vật bằng các trận giao chiến với kẻ thù, các chiến công lẫy lừng, ý chí vượt chướng ngại để đến tiêu đích một cách anh dũng. Ở đây tính cách anh hùng được cường điệu cao độ, nhưng không phải vì thế mà nét trữ tình lại vắng mặt.
Bên cạnh đó, các akayet Chăm đã có vai trò quyết định trong việc hình thành và chỉnh thể thơ lục bát cổ điển Chăm, một thể thơ mà mãi đến thời cận đại, các nhà sáng tác thơ Chăm vẫn còn sử dụng.
Ariya-trường ca hình thành hai dòng chính: dòng thơ thế sự và dòng thơ trữ tình. Dòng thế sự có các tác phẩm chính: Ariya Glơng Anak, Pauh Catwai, Ariya Ppo Parơng… thuộc dòng này, nổi bật lên thể tự sự và ký sự.
Ariya Ppo Parơng (cuối thế kỷ XIX) ghi lại cuộc hành trình dài, gian khổ nhưng đầy lý thú của nhóm người Chăm chân đất bị quan lớn Pháp bắt đi tìm bia ký Cham-pa cổ suốt dải đất miền Trung. Họ không hiểu mình đang làm gì nơi đất khách quê người này, khi lúc họ phải xa vợ con, nhà cửa, đồng ruộng. Nhà thơ đã khắc họa các khuôn mặt này với đầy đủ tên tuổi, quê quán cũng như các phản ứng tiêu cực của họ.
Pauh Catwai (đầu thế kỷ XIX): miêu tả một xã hội Chăm trong buổi giao thời đầy biến động. Cuộc sống đổi thay, lòng người điên đảo. Phẫn nộ trước thói đời đen bạc, nhà thơ lên tiếng ngạo đời một cách chua chát: Trong lúc, cũng cảnh ngộ ấy, cũng chịu sức đè nặng như thế nhưng thái độ của tác giả Ariya Glơng Anak (đầu thế kỷ XIX) đúng mực hơn và nặng trách nhiệm hơn, mặc dù nhà thơ phải chìm trong nỗi cô đơn sâu thẳm hơn. Đứng trước xã hội nhiễu nhương, nhà thơ chúng ta đã không chạy trốn sự thật mà dám nhìn vào hiện trạng và vạch một lối đi khiêm tốn, rọi chiếu vài tia hy vọng vào ban mai.
Dòng trữ tình có ba truyện thơ và hai bài thơ dài là: Ariya Xah Pakei, Ariya, Bini-Cam, Ariya Cam-Bini, Ariya Ppo Thien, Ariya Mưyut. Toàn bộ câu chuyện kể là bi kịch tình yêu lứa đôi. Các cuộc tình này bắt đầu bằng bi kịch và kết thúc cũng bằng bi kịch. Không có bóng dáng niềm vui trong dòng văn chương này. Cuộc gặp gỡ giữa công chúa Islam và vị hoàng thân Chăm trong Ariya Bini-Cam báo hiệu cho một màn kịch lớn và toàn diện hơn. Nước mắt và máu đã đổ suốt câu chuyện, thấm đầy trang giấy. Và kết thúc luôn luôn là cái chết. Về nghệ thuật, chính dòng văn chương này, người Chăm đã để lại nhiều đoạn tuyệt bút.
Ngoài hai dòng trên, ariya Chăm còn có dòng văn chương triết lý và giáo huấn với các tác phẩm đặc sắc và giá trị.
PHÚ TRẠM