QĐND Online - Giỗ Tổ Hùng Vương 2013 này, muôn triệu trái tim con Hồng, cháu Lạc hướng về núi thiêng Nghĩa Lĩnh (Việt Trì, Phú Thọ) để nhân niềm tự hào đón Bằng công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”. Tuy nhiên, chưa nhiều người biết rằng, lăng mộ và đền thờ Nam Bang Thủy Tổ Kinh Dương Vương, ông nội của Vua Hùng thứ nhất và Hoàng hậu - Thủy Tổ Quốc Mẫu Hồng Đăng Ngàn vẫn đang được nhân dân thờ phụng bên bờ hai con sông nổi tiếng: Sông Đuống và sông Hồng. Đấy là mạch nguồn Tiên Tổ Việt Nam…

Bài 1: Dấu tích vàng son bên bờ sông Đuống

Cách núi Nghĩa Lĩnh khoảng 100 cây số, tại thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành (Thuận Thành, Bắc Ninh), lăng mộ và đền thờ của vị Vua mở nước đầu tiên - Kinh Dương Vương - nằm khiêm nhường dưới tán cây xanh.  

Mạch nguồn Tiên Tổ

Sách “Nam Bang Thủy Tổ Kinh Dương Vương” - Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc xuất bản năm 2012 do nhóm tác giả Trần Quốc Thịnh, Đỗ Văn Sơn, Biện Xuân Phẩm biên soạn. Sách tập hợp khá nhiều tư liệu từ “Đại Việt Sử ký toàn thư”, “Lĩnh Nam chích quái”, “Thủy Kinh chú”… từ các truyền thuyết, văn bia, thần phả, thần tích cũng như công trình nghiên cứu, tham luận của các học giả, nhà sử học về thời kỳ Hồng Bàng.

Kinh Dương Vương là cháu ba đời của Vua Thần Nông, làm vua và đặt tên nước là Xích Quỷ vào khoảng năm 2879 (Trước Công Nguyên). Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Nữ Thần Long sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân kết duyên với Âu Cơ, là con gái cụ Đế Lai. Bà Âu Cơ sinh bọc Rồng trăm trứng, nở trăm chàng trai, người con cả là Hùng Đoàn được cha truyền ngôi, phong là Hùng Quốc Vương, thành lập ra Nhà nước Văn Lang. Họ Hùng là cháu ba đời của Thủy Tổ Kinh Dương Vương (thuộc họ Hồng Bàng), truyền được 18 đời…

Xích Quỷ là tên của ngôi sao trong “nhị thập bát tú”, sáng rực nhất trời Nam được lấy làm niên hiệu, có ý nghĩa như một đất nước tự chủ ở phương Nam. Buổi sơ khai lập nước, Kinh Dương Vương đóng đô tại núi Ngàn Hống (thuộc Can Lộc, Hà Tĩnh ngày nay). Sau đó, Vương dời đô về Việt Trì.

Năm 2013 lễ hội gắn liền với kỷ niệm 4892 năm vua Kinh Dương Vương mở nước. Huyện Thuận Thành khởi công dự án bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu lăng Kinh Dương Vương.

Khi đi kinh lý qua vùng đất Phúc Khang (làng Á Lữ ngày nay), thấy thế đất quý, có Long, Ly, Quy, Phượng chầu về, Kinh Dương Vương cho xây một tòa hành cung tụ tập dân chúng để bàn việc non sông xã tắc, xây dựng điện thờ tổ tiên, cha mẹ. Từ đất Phúc Khang, Vua bắt đầu hình thành sự nghiệp. Công cuộc trị quốc của triều đại Kinh Dương Vương được 235 năm. Lăng mộ, đền thờ Kinh Dương Vương được các thế hệ người Việt trông nom, tôn tạo và tìm về bái yết.

Dấu tích vàng son

Ông Nguyễn Bá Khải, Phó Chủ tịch UBND xã Đại Đồng Thành, Trưởng ban Quản lý khu di tích (KDT) lăng và đền thờ Kinh Dương Vương cho biết, hệ thống đại tự, câu đối, bia đá, sắc phong, văn khấn, sách cổ… từ nhiều triều đại phong kiến Việt Nam ở khu di tích rất phong phú. Hệ thống đó thể hiện ý nghĩa về thời kỳ lịch sử mở nước của Kinh Dương Vương, nhắc nhở con cháu nhớ tổ tông mà thờ phụng. 15 đạo sắc phong hiện lưu giữ tại đền cũng là những dấu tích vàng son ghi nhận của triều đình nhà Nguyễn về thời kỳ mở nước.

Lăng Thủy Tổ Kinh Dương Vương có bia đá thể hiện lần trùng tu gần nhất của các triều đại phong kiến vào thời Minh Mạng (1840). Thời kỳ giặc Pháp chiếm đóng, tàn phá, nhân dân đã di chuyển đồ thờ, bia đá khỏi lăng. Năm 1971, lăng được xây dựng lại trên nền đất cũ.

Ông Nguyễn Bá Khải cho biết:

- Chính sự thiêng liêng của lăng mộ và ngôi đền này mà từ xa xưa đến nay, mỗi dịp quốc khánh hay lễ hội đều có vua, quan về thăm viếng, tế lễ.

Như để minh chứng, ông Khải dẫn chúng tôi đi thăm bia đá hạ mã (bia dừng ngựa, xe để quan, quân, dân đi bộ vào viếng) và giải thích về việc thờ Đức Thánh Trần ở một chái đền Kinh Dương Vương.

Thường ngày, có khá nhiều người dân đến tế lễ tại lăng Kinh Dương Vương.

Tổng hợp từ tích truyện truyền miệng trong vùng, xưa Trần Quốc Tuấn khi dẫn quân đi dẹp giặc Nguyên, qua trang Phúc Khang đã dừng lại vào làm lễ mật xin đức Thủy Tổ phù hộ. Sau khi đại thắng quân Nguyên, Trần Quốc Tuấn trở về làm lễ tạ, nhân thể giúp dân Phúc Khang dẹp bọn phản ác trong vùng. Nhân dân nhớ ơn Hưng Đạo Đại Vương, lập đền thờ, đến nay còn tấm ảnh mà người dân nơi đây vẫn cho là của Người (không rõ có từ thời nào) đặt trên ngai thờ.

Câu chuyện ấy minh chứng thêm giá trị lịch sử của ngôi đền thờ Vương Tổ của đất nước qua các triều đại.

Những năm trước, khu di tích lăng và đền thờ Kinh Dương Vương thật hiu quạnh vì quy mô của nó quá khiêm tốn, ít khách đến tế lễ, tham quan thờ cúng. Các hoạt động bảo tồn, giữ gìn cũng như các hoạt động lễ hội chủ yếu do dân làng tổ chức, vì thế rất nhiều con Lạc cháu Hồng cũng không biết có một khu di tích như thế. Tuy nhiên, nhưng năm gần đây, được các cấp quan tâm, ngày càng nhiều người biết và tìm về bái yết. Xem sổ vàng truyền thống ở Đền Kinh Dương Vương thì biết rằng, nhiều lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, các ngành, địa phương từng rất ngưỡng vọng khi tìm về nơi thờ người có công mở nước.

Lễ hội truyền thống chào mừng 4892 năm Kinh Dương Vương mở nước (Xuân Quý Tỵ), có hàng chục vạn du khách tìm về bên bờ sông Đuống để tế lễ và tham gia các hoạt động của lễ hội.

Ông Nguyễn Khoa Điềm, nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin lưu bút tích (ngày 20/2/2000):

“Kinh Dương Vương - Lạc Long Quân - Âu Cơ là Thủy Tổ của đất nước, mở ra thời đại các Vua Hùng làm rạng rỡ non sông Việt Nam.

Di sản nơi thờ cúng của các vị là tài sản quý báu, thiêng liêng của dân tộc.

Nhà nước ta nhất định sẽ có chính sách trùng tu, tôn tạo ngày càng tốt đẹp hơn.

Mong muốn nhân dân Á Lữ chăm lo, giữ gìn di tích thờ phụng Kinh Dương Vương - Lạc Long Quân - Âu Cơ để làm nơi giáo dục các thế hệ muôn đời”.

Bài, ảnh: ĐÀO ĐỨC HANH 

Bài 2: Kỳ tích Đền Tiên