QĐND - Sầm Tham (715-770), quê ở Nam Dương, tỉnh Hà Nam, ông cha đều làm quan nhưng mồ côi sớm, nên nghèo, phải tự học, đỗ Tiến sĩ năm 29 tuổi (năm Thiên Bảo thứ 3, đời vua Đường Huyền Tông, 744). Đời vua Đường Đại tông (762-780), làm Biệt giá Tòng sự, thường theo vua ra chốn nhung trường (chiến trường) để giữ việc từ, trát, thư, tấu. Về già, cáo quan, nghỉ hưu ở Đỗ Lăng, gặp loạn, không về quê được, chết ở đất Thục.

Có lẽ, chính vì theo vua đi trận nhiều, nên thơ biên tái (biên ải) của ông rất hay. Ông viết ở Tân Cương, Cam Túc , Thiểm Tây - những vùng biên viễn xa xôi - ca tụng tinh thần anh dũng của chiến sĩ biên phòng, miêu tả những phong cảnh lạ lùng, hùng tráng ở những nơi "đèo heo hút gió", "cát bay đá chạy", "tuyết phủ mây che", tiêu biểu là những bài "Bài hành sông Tẩu Mã...", "Bài ca tuyết trắng...", "Viết trong sa mạc"...

"Viết trong sa mạc" (Thích trung tác) giới thiệu ở đây là một bài thể tuyệt cú, ngắn gọn nhưng cũng tiêu biểu cho phong cách thơ ông:

Thích trung tác

Tẩu mã tây lai dục đáo thiên

Từ gia kiến nguyệt lưỡng hồi viên

Kim dạ bất tri hà xứ túc

Bình sa vạn lý tuyệt nhân yên.

SẦM THAM

Dịch nghĩa

Ở trong sa mạc cảm tác

Giục ngựa chạy về phía Tây, muốn đến tận chân trời/ Rời nhà ra đi, đã thấy trăng hai lần tròn/ Đêm nay không biết ngủ ở đâu/ Trên sa mạc muôn dặm, tuyệt không thấy bóng người và khói bếp.

Dịch thơ

Viết trong sa mạc

Lên yên định đến cuối trời tây

Trăng tròn hai bận soi dặm dài

Đêm nay biết ngủ nơi nào được?

Chỉ cát. Không người. Không khói bay!

Viết trong sa mạc

 (Thể lục bát)

     Ôm yên giục ngựa mỏi mòn

Trên đầu hai bận trăng tròn trời tây

     Ngủ đâu trong cát đêm nay?

Không người. Không khói bếp bay quanh mình!

Cưỡi ngựa đi về tây, đã hai tháng trời rồi xa nhà, đêm nay, vạn dặm quanh mình chỉ thấy cát, không bóng người, không khói bếp bay, biết ngủ ở đâu bây giờ?

Cảnh rất cụ thể, lời cũng không "ý tại ngôn ngoại" gì lắm, nhưng nỗi nhớ nhà, cảnh cô đơn, thân vất vả, thế "tiến thoái lưỡng nan" của người "đi về phía tây", đến nơi biên viễn vùng Hồi - Khương, thì rõ như lòng tay. Chỉ 4 câu thơ ngắn mà "thương hiệu" Sầm Tham đã hé lộ. Thơ ấy đáng gọi là thơ hay. Người viết thơ ấy đáng gọi là cao thủ.

Nhân đây, có lẽ nên đọc thêm một bài nữa của Sầm Tham, để "thương hiệu" biên tái của ông thêm đậm đà:

     TẨU MÃ XUYÊN HÀNH

     PHỤNG TỐNG PHONG ĐẠI PHU

     XUẤT SƯ TÂY CHINH

Quân bất kiến:

Tẩu Mã xuyên hành tuyết hải biên

Bình sa mãng mãng hoàng nhập thiên

Luân Đài cửu nguyệt phong dạ hống

Nhất xuyên toái thạch đại như đẩu

Tùy phong mãn địa thạch loạn tẩu

Hung Nô thảo hoàng mã chính phì

Kim Sơn tây kiến yên trần phi

Hán gia đại tướng tây xuất sư

Tướng quân kim giáp dạ bất thoát

Bán dạ quân hành qua tương bát

Phong đầu như đao, diện như cát

Mã mao đái tuyết hãn khí chưng

Ngũ hoa liên tiền tuyền tác băng

Mạc trung thảo hịch nghiễn thủy ngưng

Lỗ kỵ văn chi ưng đởm nhiếp

Liệu chi đoản binh bất cảm tiếp

Xa sư tây môn trữ hiến tiệp.

Dịch nghĩa

     BÀI HÀNH “SÔNG TẨU MÔ(1) PHỤNG MỆNH VUA, VIẾT TIỄN ĐẠI PHU

     HỌ PHONG (2) XUẤT QUÂN ĐÁNH GIẶC PHÍA TÂY

     Người không thấy: Sông Tẩu Mã chảy quanh bể tuyết/ Sa mạc mênh mông, vàng đến chân trời/ Đất Luân Đài (3), tháng chín, gió đêm gầm rít/ Suốt dọc sông, đá lổn nhổn to như những chiếc đấu/ Theo gió lăn lóc đầy mặt đất/ Đất Hung Nô, mùa cỏ vàng, đúng lúc ngựa đang béo/ Nhìn đến phía núi Kim Sơn(4) ở phía tây, khói bụi mờ mịt/ Đại tướng nhà Hán ra quân, nhằm tiến về hướng ấy/ Áo giáp trên mình, đêm cũng không dám cởi/ Nửa đêm hành quân, giáo mác chạm nhau/ Ngọn gió buốt như dao cắt vào mặt/ Lông ngựa đọng tuyết mà mồ hôi bốc hơi/ Yên cương trên ngựa năm hoa, thoắt đóng băng/ Đang thảo hịch trong trướng, mực đông lại/ Kỵ binh giặc nghe thấy tin, hẳn phải mất mật/ Tự chúng biết gươm ngắn, không dám mò đến gần/ Trước cửa tây nước Xa Sư (5) ta chờ tin thắng trận.

Chú thích

(1) Sông Tẩu Mã: Sông ở phía bắc Duy Ngô Nhĩ, thuộc tỉnh Tân Cương ngày nay.

(2) Đại phu họ Phong: Tướng Phong Thường Thành, bấy giờ đóng giữ tây bắc Trung Hoa cũ.

(3) Luân Đài: Tên đất, cũng thuộc Duy Ngô Nhĩ.

(4) Kim Sơn: Tức núi A Nhĩ Thái.

(5) Xa Sư: Một nước nhỏ thời xưa, nay là Duy Ngô Nhĩ.

Dịch thơ

BÀI HÀNH “SÔNG TẨU MÔ PHỤNG MỆNH VUA, VIẾT TIỄN ĐẠI PHU HỌ PHONG XUẤT QUÂN ĐÁNH GIẶC PHÍA TÂY

Người không thấy:

Sông Tẩu Mã chảy bên bể tuyết

Sa mạc, cát vàng ngang lưng trời

Luân Đài, gió thu đêm gầm thét

Dọc sông, đá cuội như đấu nằm

Theo gió lăn đi đầy mặt đất

Ngựa Hồ béo trong mùa cỏ vàng

Kim Sơn, gió tây tung bụi khuất

Tướng Hán xuất chinh nhằm hướng này

Đêm cũng như ngày, không cởi giáp

Giáo gươm sắc lạnh va lanh canh

Gió buốt tựa dao nào cắt mặt

Mồ hôi hóa tuyết trên ngựa rồi

Sờ đến, yên cương cứng như sắt

Hịch đang thảo dở, mực thành băng

Nghe tiếng, kỵ binh giặc chết khiếp

Gươm ngắn, chơi sao lại quân mình

Cửa tây, xin chờ tin báo tiệp.

ĐỖ TRUNG LAI (dịch lại thơ và bình)