QĐND - Thanh minh lất phất mưa phùn

Khách đi đường thấm nỗi buồn xót xa

Hỏi thăm quán rượu đâu à?

Mục đồng chỉ lối Hạnh Hoa thôn ngoài.

ĐỖ MỤC

(TƯƠNG NHƯ dịch)

Lời bình của ĐỖ TRỌNG KHƠI:

Ngày Thanh minh - trời trong sáng, tính theo 12 tiết khí thì ngày này được xem là ngày sang tháng Ba, âm lịch, cũng là ngày theo phong tục cổ truyền Trung Quốc và Việt Nam lấy đây làm ngày thăm viếng phần mộ tổ tiên, nên gọi là ngày lễ tảo mộ. Và những người yêu thơ, thơ Đường, hẳn ai cũng nhớ tới bài thơ "Thanh minh" rất hay của Đỗ Mục.

Thanh minh lất phất mưa phùn

Khách đi đường thấm nỗi buồn xót xa…

Thơ nhẹ nhàng như một lời tâm sự, nhật trình. Nhà thơ kể câu chuyện nhỏ trên đường, gặp cảnh trời mưa phùn và lại là cảnh tha hương trong tiết Thanh minh. Nỗi éo le, điều đáng kể ở đây, là vậy: "Thanh minh trong tiết tháng Ba/ Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh" (Truyện Kiều). Trong tiết Thanh minh không chỉ có "lễ" mà còn có "hội". "Lễ" thăm viếng mộ phần người thân đã mất, "hội" mừng tiết trời trong sáng. Đôi đặc điểm ấy càng xui thêm niềm thương nhớ quê với kẻ tha hương đang cảnh đường xa mưa gió.

Hỏi thăm quán rượu đâu à?

Mục đồng chỉ lối Hạnh Hoa thôn ngoài.

Cảnh tình day dứt, đượm buồn là thế, sao lời hỏi thăm không là hỏi lối đến nơi nghỉ ngơi, mà lại là "quán rượu"? Và, người "chỉ lối" sao không phải ai đó khả tín hơn, như một bác nông phu, người thiếu phụ mà lại là một trẻ chăn trâu?

Nhà thơ Đỗ Mục sinh ra trong gia đình danh môn lệnh tộc. Người ông nội và người anh trai của ông từng làm quan tới chức Tể tướng. Bản thân Đỗ Mục đỗ tiến sĩ năm 25 tuổi và kinh qua nhiều chức quan, như chức Thứ sử, rồi chức quan Trung thư… Với một nhân thân như vậy, lẽ thường cuộc sống hằng ngày, ông có kẻ hầu người hạ. Một hạng người hầu vốn hay được các quan gia ưa thích tin dùng, gọi là tiểu đồng. "Quất chú ngựa dong chơi ngoài ngõ liễu/ Gọi hề đồng pha nước trước hiên mai" (Hải Vân). Vì vậy chăng mà nhân vật đột nhiên xuất hiện, được hỏi việc "chỉ lối" dẫn đường trong thơ ông quan Đỗ Mục cũng là một đứa trẻ, danh xưng có âm tiết gần với tên gọi tiểu đồng, là "mục đồng": "Mục đồng chỉ lối Hạnh Hoa thôn ngoài"? Và trước cảnh đường xa, mưa lạnh, lòng buồn nhớ quê hương, trong cảnh huống đó, hình ảnh trẻ "mục đồng" xuất hiện đã pha cho không gian gió mưa u ám chút màu vui tươi. Nhờ vậy, từ điểm này, cảnh thơ sáng sủa hơn khi vang thêm trong không gian mưa lạnh hình ảnh, mang tên gọi đẹp: "Hạnh Hoa thôn". Cơ chừng tên người "chỉ lối" không phải "mục đồng" thì chưa dễ cái tên "Hạnh Hoa thôn" đã hiện ra được. Lại nữa, người lớn tuổi, từng trải, ai cũng biết đi đường, khi cần hỏi lối thì đáng tin cậy hơn là hỏi được một vị cao niên. Người Việt ta dặn nhau: "Ra đường hỏi già/ Về nhà hỏi trẻ". Ông quan, nhà thơ Đỗ Mục, trong việc làm văn thơ lại là người trọng ý, trọng tính thực tiễn. Ông từng nêu rõ quan niệm: "Lấy ý làm chủ, lấy khí làm phụ, lấy từ ngữ chương cú làm binh vệ…" (dẫn theo Đáp Trang Sung Thư), và "làm văn vì sự việc chứ chẳng phải "không ốm mà rên" (Vô bệnh thân ngâm). Với bài "Thanh minh", đưa hình ảnh trẻ "mục đồng" vào không gian thơ, tác giả đã đạt được hiệu quả kép là tạo được hình ảnh tươi trẻ, và không khí đời sống, lao động. Trong ngày lễ tiết này, gặp ai, dù là trẻ già trai gái đều chưa dễ toát lên tính lao động, ngoài hình ảnh "mục đồng" - trẻ chăn trâu.

Và hình ảnh quán rượu ở thôn Hạnh Hoa, sao lại xuất hiện trong không gian thơ "Thanh minh"? Thời Đỗ Mục đang làm quan ở tỉnh An Huy và tỉnh Giang Tô khoảng năm 844 trở đi, thời Vãn Đường, ở hai tỉnh này đều có thôn Hạnh Hoa nổi tiếng rượu ngon. Không chỉ Đỗ Mục mà nhiều tao nhân mặc khách đều đã đến đây thưởng rượu, đề thơ. Khi đang cảnh tha hương, nỗi đường xa, trời mưa lạnh, lòng buồn nhớ quê, nhà thơ Đỗ Mục, lẽ thường tình như mọi khách nam nhi tìm rượu giải sầu, còn lẽ khác thường là dù để giải sầu nhưng vẫn phải với rượu ngon, nơi ở đẹp đẽ, sang trọng, nổi tiếng…

Qua hai hình ảnh, danh tính "mục đồng" và "Hạnh Hoa thôn" đã thêm chỉ dẫn cho ta biết về cốt cách tác giả cũng như về cách lựa chọn thi ảnh để phục vụ cho một dụng công chữ nghĩa nghệ thuật.

Thơ như một bức tranh thủy mặc. Hình họa có phần giản dị, đơn sơ, gam màu hơi lạnh, u mặc. Góc hình họa đứa trẻ chăn trâu, xa xa trong màn mưa nhẹ thấp thoáng một thôn quê là đôi nét họa tươi tắn, gây cảm giác không gian đang ấm dần lên. Đó chính là nét thể hiện được vẻ điềm tĩnh, tự tại của một cốt cách, dù nặng lòng thương nhớ, xót xa...

Bài thơ mang một vẻ đẹp giản dị, cổ kính, trang trọng. Thơ ấy là thơ của người quân tử phong lưu, u nhã, có mối lòng hiếu nghĩa, hiếu văn hóa.

Thơ trọng ý, trọng hiện thực mà vẫn đậm vẻ duy mỹ. Quả đây là một tác phẩm "thi trung hữu họa" theo tiêu chí nghệ thuật Trung Quốc.