QĐND Online – Mỗi dịp Tết về, nhìn dòng người xếp hàng chờ mua bánh chưng trên phố tôi chợt chạnh lòng nhớ nồi bánh chưng năm xưa. Với tôi, chiếc bánh chưng vuông nhỏ bé không chỉ đơn thuần là một món ăn ngày Tết mà đã trở thành niềm vui sum họp, hân hoan mỗi dịp Tết đến, Xuân về.

Có lẽ những đứa trẻ thành phố như tôi hình ảnh nồi bánh chưng sôi sùng sục suốt đêm trên bếp củi đã trở thành thứ “đặc sản” mỗi năm mới được “thưởng thức” một lần. Cho đến bây giờ, trong tâm trí tôi vẫn không thể phai mờ hình ảnh đứa trẻ ngồi ngoài cửa ngóng mẹ đi chợ về, rồi cuống quýt đỡ tập lá dong trên tay giúp mẹ với niềm hân hoan khôn tả. Vậy là Tết đến thật rồi!

Bánh chưng ngày Tết còn có “hương vị” của sự sum họp gia đình

Cảm giác háo hức theo chân người lớn chuẩn bị thịt, đãi đỗ, rửa lá, ngâm gạo… thấy mình cũng thật “bận rộn”. Cầm giúp mẹ cái chậu ra ngoài máy nước công cộng để rửa lá, đãi đỗ, nghe các cô nói chuyện râm ran về việc chuẩn bị Tết. Nhà này, nhà kia năm nay gói bao nhiêu chiếc, những đứa trẻ cũng bắt chước hỏi nhau “nhà cậu năm nay gói mấy chiếc”, “bao giờ gói”, “bánh to hay bánh bé”, “đêm có thức trông bánh không?”…

Ngày ấy, kinh tế dẫu còn khó khăn nhưng cả khu nhà tôi ở, tuy nhà nào cũng chỉ mười mấy mét vuông nhưng đều có một nồi bánh rất to. Chạy sang nhà hàng xóm khoe, thấy nhà nào cũng bày la liệt giữa nhà những thúng đầy gạo nếp trắng tinh, những mâm đầy đỗ xanh vo tròn rất ngon mắt, thêm những bát thịt rồi cả những khuôn bánh, lá dong xanh rờn nữa.

Mỗi lần gói bánh, ngôi nhà nhỏ bé của tôi lại chộn rộn người ra, người vào 2-3 ngày liền. Bà vừa nhai trầu vừa ngồi chẻ lạt, mẹ xóc lại rổ gạo nếp cho ráo nước, các dì cẩn thận lau từng chiếc lá, bố hì hục giã đỗ, còn các cậu cọ thùng phuy và chuẩn bị bếp củi… lũ trẻ chúng tôi lăng xăng nhặt những hạt đỗ vương vãi để ăn và hóng mắt chờ đợi.

Ông ngoại ngồi thủng thẳng hút thuốc, đợi khi tất cả các khâu chuẩn bị hoàn tất mới ngồi xuống gói. Tuy cả năm chỉ gói một lần nhưng không cần khuôn mà ông cũng gói rất vuông, chúng tôi ngưỡng mộ lắm. Không chỉ gói bánh mà vừa gói ông vừa kể chuyện, khề khà một ngụm nước chè, ông kể sự tích bánh chưng bánh giầy, về ông Lang Liêu-người con thứ 18 của Vua Hùng, rồi tục thờ cúng tổ tiên, tục lệ ngày Tết… Những câu chuyện đó năm nào gói bánh ông cũng kể nhưng những đứa trẻ ham chơi nghe xong lại quên, năm sau nghe lại vẫn háo hức như mới.

Trong căn hộ chật chội với đủ thứ giữa nhà, cả nhà quây quần xung quanh với rất nhiều câu chuyện mà cả năm không có dịp kể cùng nhau; đám trẻ con cũng góp việc bằng cách tự “đùm” một cái bánh bé xinh và đánh dấu bằng lạt cho riêng mình. Mùi lá mới, mùi đỗ, mùi thịt thơm nức mũi khiến bọn trẻ “giả vờ” kêu đói để được ăn, mẹ bảo “ai ngoan chốc nữa sẽ được ông gói riêng cho một cái”, vậy là “cơn đói” hết luôn.

Chập tối, chồng bánh vuông vức, đều đặn đã được bố xếp cẩn thận vào nồi. Ăn vội bát cơm, chúng tôi ra xem nhóm lửa, bắc bánh lên những hòn gạch được kê sẵn ở sân. Trải cái chiếu dưới hiên nhà nằm trông bánh, nói là trông chứ nghịch lửa là chính, mấy đứa trẻ “xí chỗ”. Quanh năm chỉ thấy mẹ nấu cơm bằng bếp điện, giờ bọn trẻ thích thú nằm nhìn ngọn lửa rừng rực, tiếng củi nổ lép bép, lại được mẹ mang cho ít khoai vùi vào đống lửa. Thật không có gì thú vị hơn.

Khoai chín thơm lừng, khói nghi ngút, ăn đem nhẻm cả miệng vậy mà đứa nào cũng toe toét cười. Ngọn lửa trên bếp bánh chưng cứ thế bập bùng trong từng ánh mắt đen láy của lũ trẻ, trên những đôi má nẻ hồng phúng phính… Giữa trời đông rét buốt khoảng sân bỗng ấm áp lạ thường!!!

Vậy đấy! Chỉ có một buổi tối bên nồi bánh chưng mà tuổi thơ tôi thật ngọt ngào. Giờ cuộc sống đã đủ đầy, khác xưa, người Hà Nội vẫn ăn bánh chưng nhưng ngọn lửa đỏ quây quần đêm 27-28 Tết đã thưa dần và gần như không còn nữa, để Tết về chợt thấy thèm, chợt thấy nhớ “hương vị” bánh chưng ấm áp năm xưa!.

 

Bài, ảnh: THU HÀ