QĐND - Từ cuối năm 2013, được UBND thành phố phê duyệt, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội đã bắt tay triển khai dự án “Tổng kiểm kê, bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể Hà Nội 2013-2015” (DSVHPVT). Sau 2 năm, kết quả thu được từ dự án vượt xa sự mong đợi. Theo lời của Tiến sĩ Lê Thị Minh Lý, Ủy viên Hội đồng DSVH Quốc gia, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát huy giá trị DSVH, đơn vị tư vấn chuyên môn cho dự án khẳng định: “Hà Nội là địa phương đầu tiên trên cả nước triển khai tổng kiểm kê DSVHPVT một cách bài bản nhất”.

PV: Ngoài những di sản thời gian vừa rồi được ghi danh, các loại hình DSVHPVT nào của Hà Nội sẽ tiếp tục được chọn làm đại diện trong lần kiểm kê này, thưa bà?

TS Lê Thị Minh Lý: Đã có 22 quận, huyện đưa ra kết quả kiểm kê và lập bản đồ DSVHPVT; các quận, huyện còn lại đang trong giai đoạn nước rút để hoàn thiện bản đồ di sản của địa phương mình trong năm nay.

Theo lần kiểm kê này, thì số lượng DSVH có hơn 1.500 loại hình, trong đó DSVH cần bảo vệ gần 200 loại hình. Năm 2015, chúng tôi chọn 6 loại DSVH cần được bảo vệ, dựa trên những bài học cụ thể, bối cảnh đại diện và hình thức thể hiện, gồm: Hát Trống quân (ba huyện: Phúc Thọ, Thường Tín và Phú Xuyên); tiếng lóng Đa Chất (Phú Xuyên); nghề thuốc nam người Dao (Ba Vì); bơi chải (Chương Mỹ); nghề rèn Đa Sĩ và hát Ải Lao (quận Long Biên). Mỗi loại hình kể trên đang có những cách thức bảo vệ khác nhau. Ví dụ như để có tiết mục trình diễn hát Trống quân của các nghệ nhân Phú Xuyên trong buổi lễ vinh danh Nghệ nhân Ưu tú Hà Nội vừa tổ chức, thì đây là loại hình nghệ thuật truyền thống cần được đưa vào bảo vệ khẩn cấp. Những ngày đầu tiến hành kiểm kê, rất ít người còn nhớ điệu hát này; thế nhưng bà con lại rất muốn được khôi phục lại, muốn giữ gìn…

Tiết mục hát Trống quân của các nghệ nhân Phú Xuyên trong buổi lễ vinh danh Nghệ nhân Ưu tú. Ảnh: CHÂU XUYÊN

Ngoài ra, chúng tôi đề xuất một số loại hình di sản vào danh mục DSVHPVT cấp quốc gia như: Hội đền Và (Sơn Tây); hội hát Môn (Phúc Thọ); bơi chải (Chương Mỹ); hát Ải Lao (Long Biên); hội đình Chèm (Bắc Từ Liêm). Có thể khẳng định, những kết quả mà Hà Nội đạt được trong lần tổng kiểm kê này là kết quả thực tiễn, chỉ rõ sức sống của di sản với những con người hiện thực, có địa chỉ cụ thể. Thông qua những người dân, nói lên giá trị của di sản cũng như những khó khăn, thách thức trong việc bảo vệ DSVH, để từ đó các cấp chính quyền, nhà nghiên cứu đưa ra chính sách phù hợp bảo vệ.

PV: Thưa bà, trong quá trình kiểm kê, ngoài việc nhận diện DSVH, thì cách bảo tồn theo quan điểm của người quản lý và người dân có tương đồng nhau không?

TS Lê Thị Minh Lý: Thực tế, di sản không phải là cái gì đó quá to tát như người ta nghĩ, mà rất gần gũi trong đời sống, ai cũng có thể thấy và làm được từ các biện pháp dễ dàng nhất; không cần quá nhiều tiền hay chờ đợi dự án lớn. Ví dụ đơn giản nhất, khi nghe một làn điệu dân ca truyền thống, chúng ta có phương tiện công nghệ hiện đại như điện thoại cũng có thể ghi âm, chụp ảnh lại, hoặc quay video để cho người thân trong gia đình xem. Qua cuộc tổng kiểm kê này, chúng tôi thu được những bài học kinh nghiệm quý, nhất là từ sự nhận dạng của người dân.

PV: Trong quá trình triển khai công tác kiểm kê, điều gì làm cho các nhà nghiên cứu những bất ngờ, thưa bà?

TS Lê Thị Minh Lý: Điều bất ngờ nhất đối với chúng tôi là sự hiểu biết của người dân. Tưởng chừng như lâu nay họ không biết gì về di sản, nói về di sản, nhưng thực sự từ lâu di sản đã ngấm vào máu thịt của họ mà đôi khi sách vở không có. Có nhiều người nói, muốn biết về văn hóa thì cứ đọc sách nọ sách kia, nhưng thực tế những giá trị cốt lõi của DSVH luôn ở trong dân, tồn tại bền bỉ và được truyền lại từ đời này sang đời khác. Và sự kiểm kê là để chúng ta đi vào thực tế của đời sống người dân được gần hơn, được người dân truyền lại, kể lại và làm rõ hơn giá trị cũng như tri thức của DSVH.

PV: Sau công tác tổng kiểm kê, nhận diện di sản sẽ là công việc gì tiếp sau?

TS Lê Thị Minh Lý: Nhiệm vụ của chúng tôi là đưa ra những đề xuất có tính chiến lược, nhất là có chính sách điều chỉnh, bổ sung, trong đó có chính sách đầu tư cho di sản. Theo quan điểm của tôi, nên có quỹ riêng cho việc bảo vệ di sản. Không chỉ dừng lại ở việc bao cấp cho các đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ di sản hằng năm, mà nên khuyến khích cộng đồng có di sản đưa ra các ý tưởng hành động, dự án bảo tồn và phát huy tốt, hằng năm dự án nào phát huy tốt thì tiếp tục được đầu tư cho năm sau…

Thứ nữa là cần có chương trình nâng cao nhận thức và năng lực cán bộ quản lý cũng như người dân; tư liệu hóa di sản, đưa việc truyền dạy di sản vào các câu lạc bộ, trường học, trình diễn trên sân khấu, chương trình thú vị trên các phương tiện truyền thông…

PV: Từ thực tế kiểm kê của Hà Nội, các nhà nghiên cứu có thông điệp nào, hoặc đề xuất tới các cấp quản lý văn hóa cao hơn, các tỉnh, thành phố khác?

TS Lê Thị Minh Lý: Thông điệp mạnh mẽ nhất mà chúng tôi đưa ra, đó là kiểm kê không phải kết thúc. Đúng như tinh thần của Công ước UNESCO đưa ra năm 2003, công tác kiểm kê là quá trình thường xuyên, liên tục. Bởi mỗi lần kiểm kê lại phát hiện, cập nhật và bổ sung rất nhiều tri thức có giá trị cho di sản.

Nhưng điều quan trọng mà Hà Nội cũng như các cấp quản lý, người dân cần lưu ý, DSVH là của chung cộng đồng, khi những di sản được chọn là đại diện để tôn vinh thì di sản đó luôn phải được “sống”, được “nuôi dưỡng” trong cộng đồng, được cộng đồng quan tâm, đặc biệt là thu hút được thế hệ trẻ tham gia.

MINH NHẬT (thực hiện)