Thơ Hồ Xuân Hương (có ý kiến duy danh kiểu thơ Hồ Xuân Hương) là một hiện tượng độc đáo, tạo nên trường lực hấp dẫn vô cùng lớn. Có điều, trên cả hai phương diện tiểu sử tác giả và văn bản tác phẩm, Hồ Xuân Hương vẫn còn là hiện tượng chưa có lời giải cuối cùng.
Với những đóng góp đặc sắc vào di sản thi ca truyền thống dân tộc, Hồ Xuân Hương được tôn vinh là “Bà chúa thơ Nôm”, “nữ sĩ bình dân”, “nhà thơ cách mạng”, “thiên tài huê nguyệt”...
Tuy phần thơ ca được tôn vinh song việc xác định tiểu sử cuộc đời Hồ Xuân Hương vẫn là “có nữ sĩ Hồ Xuân Hương hay không?” (Hồng Tú Hồng), “có chăng một bà Hồ Xuân Hương?” (Lữ Hồ), “về mối quan hệ giữa Hồ Xuân Hương và Phạm Đình Hổ” (Siêu Hải), “Hồ Xuân Hương sinh vào khoảng giữa thế kỷ XVIII hay đầu thế kỷ XIX?” (Trần Tường)...
 |
Du khách chụp ảnh lưu niệm bên tượng Hồ Xuân Hương tại xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.Ảnh: HỒ NHƯ QUỲNH |
Trong tình hình tư liệu hiện nay, nhiều bộ từ điển thường ghi nữ sĩ Hồ Xuân Hương sống vào khoảng cuối thế kỷ XVIII-đầu thế kỷ XIX, người nổi tiếng với những bài thơ Nôm đặc sắc nhưng chưa được kiểm chứng chắc chắn. Theo các học giả, Hồ Xuân Hương sinh năm Nhâm Thìn (1772), con của Hồ Phi Diễn (1703-1786), quê ở xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An ngày nay; mất năm Nhâm Ngọ (1822). Đây là quan điểm được thống nhất cao và được coi là chính thống.
Đứng dưới góc độ văn bản tác phẩm, tựu trung thấy có mấy phác thảo thơ Hồ Xuân Hương như sau: Một là: Tác giả của những bài thơ Nôm truyền tụng nhưng cả thơ lẫn người vẫn còn nhiều vấn đề chưa sáng tỏ; Hai là: Một số học giả lại tin rằng không có tác giả thật nào của những bài thơ “Quả mít”, “Ốc nhồi”... mà Hồ Xuân Hương chỉ là một “nguyên mẫu” để giới nho sĩ tài tử truyền ghép vào những bài thơ “nhảm”.
Họ kiên quyết cho rằng thơ Hồ Xuân Hương không bao giờ khêu gợi những dục vọng thầm kín của con người; Ba là: Có người lại chứng minh rằng chính cái “tục”, cái “dâm” mới làm nên Hồ Xuân Hương và đó chính là thủ pháp nghệ thuật tạo nên những hình tượng phồn thực độc đáo và đa nghĩa trong thơ bà.
Điều này dẫn đến yêu cầu phải giải quyết vấn đề mỹ học thanh-tục trong thơ Hồ Xuân Hương và đến nay đã đạt được sự đồng thuận cao; Bốn là: Có một Hồ Xuân Hương khác có cả thơ Nôm, thơ Hán và được biết đến sau khi phát hiện các văn bản “Xuân đường đàm thoại”, “Lưu hương ký”, “Xuân đình đàm thoại”. Giới nghiên cứu chưa thật nhất trí về vấn đề này. Nhiều người cho rằng không thể gán ghép hai kiểu nữ sĩ vào nhau được, bởi giữa một Hồ Xuân Hương của những bài thơ Nôm “huê nguyệt” và Hồ Xuân Hương của những bài thơ chữ Hán trang trọng, mẫu mực kia khác nhau xa quá. Một số khác lại chủ trương hai dòng thơ Hồ Xuân Hương chỉ là một.
Trước tình hình phức tạp về mặt văn bản như trên, xu thế chung chủ trương theo cách tuyển chọn của Nguyễn Lộc (có 46 bài thơ Nôm in đậm phong cách Hồ Xuân Hương, xếp phần phụ lục có thêm 9 bài thơ Nôm và 13 bài trích trong tập “Lưu hương ký”) trong sách “Thơ Hồ Xuân Hương” (1982) và lưu ý thêm cách xử lý của Đào Thái Tôn (Hồ Xuân Hương có 30 bài thơ thơ chữ Hán và Nôm thuộc dòng mạch “Lưu hương ký”, có 26 mục bài “thơ Nôm truyền tụng” và 27 mục bài phụ lục) trong chuyên khảo “Hồ Xuân Hương-Tiểu sử, văn bản, tiến trình huyền thoại dân gian hóa” (1999).
Vấn đề thơ Hồ Xuân Hương đến đây diễn ra một nghịch lý: Những bài trong tập “Lưu hương ký” có phần xác thực thì lại không mấy độc đáo, trong khi những bài thơ Nôm truyền tụng tuyệt vời độc đáo thì lại chưa thể kiểm chứng thật chắc chắn...
Bàn về mối quan hệ tác giả-tác phẩm Hồ Xuân Hương cần đặc biệt ghi nhận tác phẩm “Giai nhân di mặc” của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến (1875-1941) do Đông Kinh ấn quán xuất bản năm 1916. Mục đích viết truyện-“diễn ra truyện” của Nguyễn Hữu Tiến rất rõ ràng: Thống kê, minh định tư liệu, khắc phục tình trạng “tam sao thất bản”, hướng đến nhận diện giá trị thơ Nôm Hồ Xuân Hương, tập trung lý giải mối quan hệ giữa thơ và đời, đời và thơ. Trên thực tế, các bài thơ Nôm truyền tụng này đóng vai trò kép, vừa là thành tố cơ hữu tạo dựng nhân vật Hồ Xuân Hương vừa là bộ phận có ý nghĩa tàng trữ giá trị thi ca...
Sau dư một thế kỷ, gần đây xuất hiện khảo luận Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương của Nghiêm Thị Hằng (NXB Hồng Đức, 2021) với định hướng nghiên cứu phi truyền thống: "Đó là đặt giả thiết và bước đầu lý giải vấn đề từ sự hỗ trợ của các bộ môn còn "siêu thực" như tử vi, Kinh dịch và ngoại cảm" (tr.5).
Sách có 5 phần: Quê hương và gia tộc-Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương "lập lá số tử vi"-Giải oan tình (Nguyễn Bình Kình-Chiêu Hổ, Tổng Cóc và Trần Phúc Hiển)-Tìm mộ Trần Phúc Hiển (Quảng Nam)-Nhân duyên... Với học giới và bạn đọc rộng rãi: “Tin thì tin, không tin thì thôi!”...
Gương mặt lạ Hồ Xuân Hương được lý giải, khảm khắc từ tâm thức “hoài niệm phồn thực”, từ những truyện tiếu lâm và từ nguồn nguyên liệu dân gian “đố tục giảng thanh” truyền thống. Có nhiều ngả đường tiếp cận thơ Hồ Xuân Hương với cả hệ đề tài in đậm sắc thái trữ tình, thơ cảm thông và bênh vực nữ giới, ngụ ý vịnh cảnh, châm biếm tôn giáo, thần quyền, nam quyền...
Trên hết cả, nguồn cảm hứng và nghệ thuật nổi bật đương nhiên là lối nói tinh nghịch, ỡm ờ, đố tục giảng thanh... Trong thời đại giao lưu và hội nhập, giá trị tinh thần thơ Hồ Xuân Hương ngày càng lan tỏa với việc được dịch rộng rãi ra qua nhiều ngôn ngữ xứng đáng được vinh danh trên toàn thế giới.
LA SƠN