Đã lâu lắm rồi, Tết năm ấy là Tết năm con lợn, tôi theo cha đi xem làng vào đám tế Thành hoàng. Làng tôi hai năm một lần vào đám, bốn giáp Đông, Đoài, Nam, Bắc, giáp nào cũng nuôi lợn thờ. Chọn lợn nuôi để làm lễ tế thành hoàng phải chọn con đực, giống lợn ỷ thuần chủng, đen tuyền và được nuôi một chỗ riêng rẽ sạch sẽ. Có khi gia chủ dọn ngay gian buồng hoặc nhà dưới để cho "ông ỷ" ngơi. Thức ăn của "ông ỷ" cũng là rau cám của nhà nhưng phải là rau ngon, cám ngon, nấu riêng, đôi ba ngày lại thêm bữa cơm trắng, canh cua, nhất là những ngày sóc, vọng thì "ông ỷ" cũng được thụ lộc như một quan viên làng xã.

Lũ trẻ chúng tôi ngày ấy không hiểu tại sao người lớn lại gọi là "ông ỷ". Nếu có đứa nào gọi là "con lợn" hoặc chòng ghẹo "ông ỷ" để ông kêu thành tiếng thì bị người lớn đe ngay, có khi còn bị vài roi quắn đít. Bà tôi giải thích: "Ông ỷ xóm mình nuôi là để tế thần. Nuôi ông gầy, Thành hoàng làng phật ý thì năm ấy lúa má chẳng ra sao, dịch bệnh xảy ra vừa hại người hại của cháu ạ!". Tôi cũng tin là thật. Vì thế, cả xóm trông cậy vào chú Tư nhà tôi, người được phân công nuôi lợn thờ thần. Chú tôi gầy rạc đi, chắc là mất ăn mất ngủ vì lo cho "ông ỷ" hay ăn mau lớn để ông được hầu thánh. "Năm nào xóm mình được nhất, năm ấy nhà nhà an bình, mạnh khỏe, phúc lộc dồi dào"-bà tôi nói thêm. Cũng theo bà tôi, việc này đã thành lệ, các cụ từ xưa vẫn thế. Tôi tin là thật!

Năm nào bà tôi cũng dẫn tôi đi chợ Tết mua tranh lợn, tranh gà mà những cô hàng xén lên tận chợ Hồ, chợ Sủi trên Bắc Ninh cất về bán trong dịp Tết. Bức tranh mẹ con đàn lợn âm dương đã làm cho tâm hồn bà tôi thêm thư thái, dịu lắng sau một năm quần quật lo việc đồng áng, nhà cửa.

Chú hợi không thể vắng mặt được vì từ chú có món "tiết canh lòng lợn" khoái khẩu người ăn. "Trông mặt mà bắt hình dong/Con lợn có béo, tấm lòng mới ngon", ngon đến mức được xếp "thứ nhì lòng lợn" trong các mâm cỗ khi nhà có đám. Chú hợi được nhắc đến như rất thân quen, dân dã trong đời sống sinh hoạt ẩm thực của người dân Việt, nhưng ở từng thời điểm, chú lại được giữ vai trò quan trọng trong làng xã, trở thành "ông ỷ" chắp mối liên lạc "vô tuyến" giữa con người với thần linh. Với đời người, ngay từ khi oa oa chào bàn dân thiên hạ, chú hợi cũng được nhắc đến. Ông bà, cha mẹ ở nhà ngoài khi thấy trong buồng, con dâu sinh con trai đều cười vui: "nhà mình có đầu lợn quay đi rồi ông ơi", sinh con gái lại rỉ tai nói nhỏ: "đầu lợn quay về rồi ông ạ!". Đến khi về già, nhắm mắt xuôi tay, chú hợi lại cùng gia chủ vào đám tiễn người về cõi Tiên, cõi Phật. Chú hợi trở thành một trong những sính lễ quan trọng trong lễ thức hôn nhân, tạo cho lứa đôi duyên thắm chỉ hồng:

Em về thưa với mẹ cha,

Bắt lợn đi cưới, bắt gà đi cheo.

Lễ tế Thành hoàng của làng tôi dạo ấy, giáp Đoài dâng lễ, khi đi ra đình, vội vàng thế nào trong đĩa khấu đuôi lại rơi mất cái ngoay ngoáy đuổi ruồi, xua muỗi nên bị các cụ tiên chỉ phạt vạ. Rõ ràng, bốn giáp khiêng bốn "ông ỷ" trình làng trong lễ tỉnh sinh đủ cả đuôi, đầu, tai, mũi. Ông nào ông ấy to béo phục phịch, nục nạc, lặc lè nằm trong cũi tre buộc bằng sợi dây nhuộm đỏ, phủ lụa hồng mà bốn trai đinh lực lưỡng, cởi trần, đóng khố, choãi chân chèo mới khiêng nổi. Sau khi bốn "ông ỷ" hội đủ trước sân đình phía ngoài gian tiền tế, ông thủ từ thắp hương khấn vái, các tộc trưởng các giáp vái theo. Lễ tỉnh sinh hoàn thành, bốn ông lại được che lọng nước rước về để hàng giáp giết lấy thịt cúng thần. Thế mà!

Cứ theo lời bà tôi kể thì nhất định giáp Đoài sẽ làm ăn lụn bại. Thế nhưng, năm ấy lại không mất mùa đói kém mà trái lại, người ta bảo xóm Đoài được quý nhân phù trợ thần mới tha cho. Tôi càng không tin. Sau này, tôi mới biết quý nhân của xóm Đoài ngày ấy là cậu tú, con ông giáp trưởng, học ở trường tỉnh, đọc sách khoa học bày lại cho cha, chú và bà con nội giáp nên chăn nuôi, trồng trọt thu hoạch mùa màng khá hơn năm trước. Cậu tú ngày ấy bây giờ đã là vị giáo sư nông học đầu ngành làm việc trên Hà Nội. Thế nhưng, chuyện họ Trịnh phát tích từ ngôi mộ mà ông viễn tổ Trịnh Liễu đem hài cốt cha an táng tại gò Nanh Lợn tại sách Sáo Sơn, huyện Vĩnh Ninh, phủ Thiệu Yên, Thanh Hóa thì người đời ai cũng tin là có "thần hợi" phù trợ. Về sau, cháu Trịnh Liễu là Trịnh Kiểm, sinh năm Quý Hợi (1503) con trai thứ ba của Trịnh Lân, 6 tuổi đã mồ côi cha phải đi chăn trâu, bị truy đuổi vì tội ăn trộm ngựa nhưng theo Nguyễn Kim có công trung hưng nhà Lê được phong Dực quận công, tước hầu, dựng lên nghiệp bá cho họ Trịnh, trải qua 10 đời, dài tới 240 năm. Đúng là La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn đã đánh giá "cái nghị lực kiên cường, cái ý chí tráng dũng của Trịnh Kiểm đã đánh bạt quan điểm luân lý trong trường chính trị nước ta trong lâu năm". Tất nhiên, phải nói thêm có địa linh gò Nách Lợn phù trợ.

NSƯT VŨ TIẾN KỲ