Tôi gắn bó với mảnh đất Sơn Tây không phải là sự tình cờ ngẫu nhiên, bởi vào một ngày đầu mùa thu của hơn hai chục năm trước, tôi nhập ngũ, và chính nơi đây, tôi đã trải qua những tháng ngày gian nan, thử thách đầu đời. Nhập ngũ, với những người trai lên đường theo chế độ nghĩa vụ quân sự thì sẽ biên chế vào một đơn vị cơ sở, rồi qua một giai đoạn đầu gọi là tân binh. Còn tôi, một cậu học sinh phổ thông thi đỗ vào trường sĩ quan, nên nhập ngũ đồng thời là làm hai việc, vừa là tân binh, vừa học để làm cán bộ chỉ huy. Mái trường tôi sẽ học, Trường sĩ quan Lục quân 1, nằm trên một vùng đất đá ong, nắng cháy, phải chăng vì thế mà có câu: “Nắng Sơn Tây, mây Ba Vì”.
Tôi nhập trường vào một ngày đầu mùa thu, nhưng cái nắng Sơn Tây dường như chưa... sang thu chút nào. Nắng quay nắng quắt. Cành lá cây xà cừ héo xoăn lại. Chiếc lá còn tươi lấy tay với thấy giòn tan, bởi nước đã bị hút hết chỉ còn trơ lại chút màu lục diệp... Mùa thu Sơn Tây là mùa thử thách của các chàng học viên sĩ quan trẻ. Tân binh thì ba tháng, hai tháng, nhưng ba năm học viên sĩ quan thuở ấy (bây giờ là 5 năm) là từng ấy thời gian làm... tân binh.
Tôi còn nhớ kỷ niệm đầu tiên trong lần huấn luyện “Chiến thuật tổ bộ binh tiến công”, địa điểm học cách doanh trại đến ngót chục cây số, ngoài khu điểm cao 40 cạnh đường Cu-ba. Từ sớm tinh mơ đã nuốt vội bát cơm sáng, rồi lại nhanh nhảu chuẩn bị súng ống, trang bị, sách vở... nai nịt chỉnh tề, hớt hơ hớt hải ra tập hợp vào đội hình hành quân ra bãi tập. Qua cổng E, bỗng một tình huống phát ra từ phía chỉ huy đại đội: “Pháo địch bắn phía sau đội hình!”. Thôi lại chạy rồi! Tiếng chân rậm rịch lúc đầu còn hơi nhẹ, lát sau có tiếng hô: “Tăng tốc độ!”, tiếng chân gằn mạnh hơn, giày cao cổ quét vào thảm cỏ sớm mai nhòe nước, hoa cỏ may bám chi chít gấu quần... Thầy giáo đã đợi sẵn tự khi nào. Chiếc xe đạp cà tàng của thầy dựng ở gốc cây bạch đàn phía chân đồi. Tôi hơi bất ngờ: Thầy giáo trẻ quá, quân hàm thượng úy còn mới nguyên. Cả đại đội tập trung thành đội hình, kiểm tra lại vũ khí trang bị xong thì cũng vừa đúng giờ lên lớp. Nhận báo cáo từ đại đội trưởng, thầy giáo chiến thuật nhìn khắp lượt những gương mặt trẻ măng, mồ hôi lăn tăn trên gò má mới chớm màu nắng sạm đen loang lổ. Càng gần trưa, nắng càng gay gắt. Nhìn ra con đường Cu-ba cứ như có những ngọn lửa đang sôi. Phía xa, núi Ba Vì xanh ngắt, loáng thoáng vài gợn mây trắng mỏng mảnh lướt qua, lướt lại. Mặt ai nấy đều đỏ nhừ. Mồ hôi lúc đầu còn chảy thấm ra ngoài quần áo “bùng nhùng”, sau không thấy giọt nào, dường như là cái nóng khô đã hút hết khiến da bị khô như da rắn mới lột xác. Khắp người tôi nóng bừng, bứt rứt, rồi gai gai lạnh. Tôi cứ mong từng giây cái tiếng còi và khẩu lệnh báo hết giờ... Và rồi cũng đến cái giây phút ấy. Lúc hành quân trên đường nhựa về doanh trại, chân tôi bước cảm giác như đang lội trong một dòng sông nước sôi bỏng rát. Trưa đó, tôi sốt cao và phải chuyển ra nằm bệnh xá nhà trường mất mấy hôm...
Sơn Tây mùa thu cũng là mùa cây sắn bất chấp cái nắng, đạp qua lớp sỏi đá mà đâm củ. Hồi đó, cả nước đang phải gồng mình lên vượt qua thiếu đói, nên học viên sĩ quan chúng tôi cũng vậy, hầu như lúc nào cũng thèm một bữa no... cơm. Thế mà nhờ “dân vận tốt”, mỗi khi có khoảng thời gian eo hẹp được ra ngoài doanh trại, mấy đứa học viên “tuổi đang còn lớn” chúng tôi lại cố kiếm được nồi sắn luộc chấm muối ớt cho tròn căng cái bụng.
Những ngày được cử đi xin thân cây chuối, mò rong để nuôi lợn của tiểu đoàn đã khiến tôi có dịp khám phá ra Sơn Tây với rất nhiều làng cổ, đền và chùa cổ. Có lần vào tận làng Việt cổ Đường Lâm, vùng đất hai Vua nức tiếng, xin được cây chuối của bác chủ nhà dễ tính, khấp khởi mừng, tôi và một anh bạn lại loanh quanh mãi trong các ngõ xóm cổ tường xây toàn bằng đá ong mà không biết lối ra...
Thấm thoắt, tôi xa Sơn Tây-xứ Đoài tròn mười tám năm. Sau ngần ấy thời gian, không phải không có cơ hội trở về, nhưng quả thật, tôi cứ tâm niệm cái ngày trở về của mình phải thật nhẹ nhàng, sâu lắng, chứ không hề muốn có mặt ở những cuộc hội hè xô bồ, hoành tráng. Lần này, cũng vào một ngày thu, tôi quyết định trở về trường cũ, trở về Sơn Tây. Lúc xe đỗ trước cổng trường, sự xúc động của tôi không giấu nổi khiến mấy người bạn đồng nghiệp đi cùng cũng lây lây cảm xúc. Dẫu chẳng còn những dãy nhà cấp bốn, những giảng đường hai tầng xây bằng đá ong... ngày nào, mà giờ đây tất cả đã khang trang, hiện đại với những nhà cao tầng, khuôn viên, vườn hoa tuyệt đẹp, bừng lên trong nắng thu vàng. Dẫu không còn những đồi sắn bao quanh những ngôi nhà dân xiêu xiêu mái ngói, mà là những ngôi nhà tầng, nhà ngói khang trang, với vườn cây xanh mướt... Dẫu con đập Đồng Mô-Ngải Sơn, sân bay Tông, sân bay đất không còn hoang sơ nữa mà đã trở thành một khu du lịch nổi tiếng. Và Sơn Tây giờ đây đã là một thành phố thuộc Thủ đô đang bừng lên nét tươi trẻ, năng động của một đô thị... Nhưng tất cả vẫn hiện lên trong tôi vẹn nguyên một ngôi trường cũ, những đồng đội, những người thầy thuở ấy, thân thương, gần gụi.
Những người bạn cùng khóa ngày ấy, được ở lại trường công tác giờ gặp nhau sau mười tám năm, ngắm nhau say sưa, rồi vỡ oà cảm xúc: Thời gian có làm cho con người già dặn, chững chạc lên nhiều, nhưng dường như vẫn không xóa nhòa được cái tạng, cái “thần” của những chàng học viên lục quân sôi động thuở nào. Một Trần Văn Chự, tiểu đội phó của tôi nay đã mang quân hàm Thượng tá, Tiểu đoàn trưởng; còn những Vũ Xuân Hào, Trần Văn Cao, Bùi Quang Hùng... là những học viên từ học sinh phổ thông vào trường giống tôi, nay cũng đang là cán bộ tiểu đoàn, trợ lý cơ quan. Câu chuyện về một thời học viên ngót hai chục năm trước chẳng có đầu, có cuối. Có một điểm chung là hễ ai nhắc đến sự kiện nào thì chả ai quên từ chi tiết nhỏ. Ký ức về một thời học viên cứ như dòng suối mát trong chảy giữa mùa thu vàng rực rỡ, để thêm quý, thêm yêu vùng đất “mây trắng xứ Đoài” đã đào luyện chúng tôi nên người.
NGUYỄN HOÀNG SÁU