QĐND - Bộ luật Hồng Đức thời vua Lê Thánh Tông cách nay hơn 500 năm có ghi rõ về quan hệ thầy, trò: “Làm thầy và trò phải hết đạo. Thầy trước tiên phải ngay mình để làm gương cho học trò. Học trò phải tôn kính thầy, chăm chỉ về đường thực học, lấy đức hạnh làm gốc”.

Các cụ ta ngày xưa cũng dạy: “Tiên học lễ, hậu học văn”, tức là trước hết phải học lễ nghĩa, phép tắc đạo đức rồi sau đó mới học kiến thức. Qua đây cũng cho thấy, các cụ ta nhấn mạnh tới người thầy phải chú ý rèn nhân cách mình trước để dạy trò. Người thầy trong xã hội xưa rất được coi trọng. Theo quan niệm Nho giáo thì vị trí của họ chỉ đứng sau nhà vua, trên cả cha mẹ: Quân (vua)-Sư (thầy)-Phụ (cha). Dân gian quan niệm bình đẳng hơn: “Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy” nhưng cũng xếp thầy ngang hàng với các bậc sinh thành dưỡng dục. Bởi hình ảnh người thầy luôn là tấm gương sáng để giáo dục, thầy chuyên tâm dạy chữ, dạy người mà không màng tới quyền lợi, danh vọng, vật chất. Đáng chú ý ở thời trước là thầy dạy và trò học đều theo tinh thần tự nguyện. Thầy không hề thu học phí mà chỉ do cha mẹ trò đến ngày, thường là mồng 5 tháng 5 âm lịch hoặc ngày mồng 3 Tết Nguyên đán đến thăm thầy, biếu thầy, người khá giả thì biếu thúng gạo, con gà, chai rượu, người nghèo có khi chỉ là lễ trầu cau,… nói chung là tùy tâm. Nhưng có hội đồng môn do các trò cùng học với nhau tự tổ chức để chăm sóc thầy cũng như công to việc cả nhà thầy, từ việc giỗ chạp cho đến cày bừa cấy hái. Thầy mất, học trò cũng để tang ba năm như cha mẹ nhưng không mặc đồ tang, gọi là tâm tang. Phải chăng, có những mối quan hệ bền chặt mà vô tư như thế mà lịch sử giáo dục Việt Nam đã sản sinh ra những bậc đại sư?

Chúng ta không quên nhà giáo vĩ đại Chu Văn An khi đã treo ấn từ quan về ẩn cư ở núi Phượng Sơn mà vẫn có nhiều trò, có người làm đến chức Tể tướng như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát.., khi đến thăm thầy vẫn một mực khiêm nhường, vẫn giữ chữ “lễ” như thuở đồng ấu vâng dạ cung kính…

Chúng ta luôn nhớ về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nổi tiếng uyên thâm, có nhiều trò giỏi trở thành những nhà văn hóa tên tuổi như: Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ, Lương Hữu Khánh… Khi thầy về ẩn, các trò đều luôn tới thăm viếng thầy, cũng là để học thêm những điều quý giá về phương cách ứng xử với thời thế…

Chúng ta kính trọng La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, thầy giáo của nhiều vị quan to ở thời Lê-Trịnh mà Quang Trung, một bậc trí dũng nghiêng thiên hạ, cũng phải ba lần mời ông mới chịu ra làm quân sư góp phần làm nên đại cuộc “bình thiên hạ” và thu phục nhân tâm của trí sĩ Bắc Hà…

Và có rất nhiều những người thầy khác quên mình suốt đời tận tụy với sự nghiệp vẻ vang cao quý của mình.

Đó là những bậc Thầy đích thực!

Trong xã hội chúng ta ngày nay, nghề dạy học được đánh giá cao, được coi là “nghề cao quý trong những nghề cao quý”. Trong lần về thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ngày 21-10-1964, Bác Hồ khẳng định: “Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản? Người thầy giáo tốt-người thầy giáo xứng đáng là thầy giáo-là người vẻ vang nhất” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2011, tập 14, tr 402). Và đại đa số những thầy giáo, cô giáo hôm nay đang miệt mài chăm chỉ, hết mình dạy dỗ học trò luôn “xứng đáng là thầy giáo”. Nhưng vẫn có những người mang danh làm “nghề cao quý” mà có những hành động, phát ngôn chẳng cao quý tý nào. Đó là hiện tượng “gạ tình đổi điểm”, “bán điểm”, rồi hiện tượng cô giáo mầm non đánh trẻ, thầy giáo phổ thông đánh trò… bị báo chí phanh phui trước công luận. Và lại có cả người mang danh học hàm, học vị sang trọng lại rao bán cả văn bằng cấp cao… Như vậy thì làm sao có thể gọi họ là thầy giáo được!

Mỗi chúng ta, ai cũng đều có những người thầy của mình. Những “người thầy giáo tốt” thì chắc chắn không có ai quên!

NGUYỄN THANH TÚ