Sinh thời, Chế Lan Viên lần nào đi thực tế, đi tham quan hay đi công tác ở nơi nào đó, nếu ở đấy có chùa thì thế nào ông cũng tới thăm chùa, thăm sư. Nhờ vậy mà ông đã sáng tác được hàng chục bài thơ về đề tài này. So với các nhà thơ thuộc lớp thơ mới đồng thời với ông và các lớp nhà thơ thế hệ sau ông, thì ít người làm nhiều thơ về sư, về chùa như Chế Lan Viên. Những lần gặp sư, thăm chùa, Chế Lan Viên đều viết và nói về hoa trong chùa, ngoài chùa, những hoa thường thấy ở chùa như hoa sen, hoa đại, hoa hồng, hoa mai, hoa đào. Đối với sư thì nhà thơ đều cung kính, vừa gần gũi chân tình đến mức:
“Sư tiễn mình tận cửa
Mấy bông sen làm quà”.
(Trong bài: “Chơi với sư”)
Đến bài “Chùa nghèo” mới thấy cái chân chất rất đời thường và vẻ bình dị trong thơ Chế Lan Viên:
“Chùa nghèo tượng Phật đất
Mõ vỡ không có sư
Chim sẻ kêu liên tiếp
Trên mái tiếng cu gù
Mặt Phật chỉ mơ hồ
Cũng lần chuỗi, bắt quyết
Cũng vàng son sơn thiếp
Nở nụ cười hư vô…”
Thơ viết về chùa, về sư của Chế Lan Viên cũng tĩnh tại, êm đềm như cảnh Phật.
“Bên kia là chùa Tuyết
Phải qua rừng hoa Mai
Anh qua rừng hương ấy
Thì gặp mặt em cười…”
Đến cõi thiền đâu chỉ ngắm chùa, xem hoa, chính đến đây nhà thơ cũng suy tư về cuộc sống bên ngoài cửa Phật:
“Quân lọc lừa phản phúc
Anh hái cành ngọc châm
Mặc kệ đời phạt dậy
Miếng tình ta lại ăn…”
Những lần đến cõi Phật không chỉ một mình ông, có lần cả cô bé Vàng Anh khi còn ở tuổi nhi đồng:
“Bé Vàng Anh vào chùa
Yêu nhất ông Phật út
Bé con mà làm phật
Được Vàng Anh cho hoa”.
Với cây bút viết tùy bút, viết chính luận sắc sảo, giàu trí tuệ, nhưng những vần thơ kia thì nhẹ nhàng, ngộ nghĩnh, ngỡ như không có ở nhà thơ uyên thâm này.
Trong tất cả các bài thơ viết về chùa, viết về sư, có bài nói về sư đi làm đồng, thật dân dã. Trong lúc đương mùa, nhà thơ đến thăm chùa lúc ấy chỉ có hoa hồng nở đỏ thay sư tiếp khách, cái tứ hay mà mới mẻ, chỉ vài câu chấm phá, phác thảo thôi cũng có vài ý tình thâm thúy, sâu xa. Trong bài Côn Sơn, ông viết:
“Côn Sơn thơm mùi hoa dại
Thơm từ thời Nguyễn Trãi đến thời ta.
Giữa trưa nắng trắng ngời chân núi.
Như oan khiên lọc rồi hay đã kết thành hoa”.
Sau này tìm hiểu về Chế Lan Viên, ta mới biết thân phụ ông là một nhà sư, thuở nhỏ ông cũng được học nhiều chữ Hán, lên học bậc Thành Chung, ông học thêm chữ Pháp, ông am hiểu cả thơ Đường lẫn thơ Pháp. Đọc bút ký “Thăm Trung Quốc” mới thấy ông biết rộng, biết sâu về thơ Tống, thơ Đường, về triết học Á Đông.
Ông mất ngày 19-6-1989 tại thành phố Hồ Chí Minh, thi hài ông được hỏa táng đưa vào chùa Vĩnh Nghiêm theo lời dặn của ông.
Hồn xác ông được gửi vào chùa, ông lại một lần nữa gần sư, tiếp cận với cảnh Phật.
LÊ HỒNG THIỆN