QĐND - Giải thưởng Văn học Việt Nam năm 2013 của Hội Nhà văn khiến dư luận xôn xao không ít. Bởi, bên cạnh những gương mặt lão làng, giải thưởng năm vừa rồi đã vinh danh một cây bút hoàn toàn mới: Nhà văn Nguyễn Trí với tập truyện ngắn “Bãi vàng, đá quý, trầm hương”. Ngay từ nhan đề, tác phẩm đã hé lộ một mảng hiện thực đầy hấp dẫn nhưng cũng hết sức khốc liệt mà không nhiều nhà văn hướng đến.

Nguyễn Trí không phải là người đầu tiên đặt bút viết về giới giang hồ tứ chiếng, về những phận người từ biệt quê hương để phiêu bạt giành giật miếng cơm manh áo nơi rừng thiêng nước độc. Thế nhưng, điều làm nên sự lôi cuốn đặc sắc của trang văn Nguyễn Trí có lẽ chính là nét tự nhiên thuần phác, cái chân thật của một con người đã nếm trải đến tận cùng cuộc sống. Như chính tác giả tâm sự, viết, đối với ông, dễ lắm: “Tôi chỉ viết những gì tôi từng trải nghiệm, hoặc chuyện của bạn bè mình (bạn đào vàng, bạn tìm trầm, bạn xe ôm, tính sơ sơ mỗi nghề cũng phải vài chục thằng)... Cứ ngồi nhậu lai rai rồi kể cho nhau nghe chơi vậy”.  Những trang viết của ông, cứ thế, trực tiếp nảy sinh tự nhiên từ hiện thực sống động không màu mè hoa mĩ như có lần ông tâm sự: “…Viết được thì cứ viết, đời nói sao kể vậy. Dài ngắn mặc kệ. Hết thì thôi”. Nhìn qua tưởng chừng bộc trực, dễ dãi, vậy mà không hề đơn giản. Nghe những lời tâm sự của Nguyễn Trí, nghe những câu chuyện đời của nhà văn “nghiệp dư”, “tỉnh lẻ” ấy mới biết, mỗi câu chữ đều là sự chiêm nghiệm của một kẻ đã từng lặn ngụp đến những đáy sâu của cuộc đời. Thật hiếm có nhà văn nào, ngay từ những dòng đầu tiên khái lược về tiểu sử, đã gây cho người đọc nhiều bất ngờ đến thế: “Sinh năm 1965 tại Bình Định. Nguyên quán Quảng Bình. Từng qua các nghề: Đãi vàng, đá quý, khai thác trầm hương, chặt củi đốt than, nấu đường lậu, cưa kéo, vv.. Dạy Anh văn hợp đồng được bảy năm, làm đồ tể chừng đó năm nữa, nghĩa là vừa dạy học vừa làm đồ tể. Sau đó lên TP Hồ Chí Minh chạy xe ôm ở bến Bạch Đằng vài năm. Về Đồng Nai làm công nhân đến tháng 12-2012 thì nghỉ việc vì có tuổi...”.

Nguyễn Trí đến với văn chương như một duyên nợ của cuộc đời. Suốt những năm tháng lặn lội giữa dòng đời đen bạc không làm ông mất đi niềm đam mê văn học đã được nhen nhóm ngay từ thời thơ ấu. Như chính Nguyễn Trí kể lại, ông ham đọc sách, đọc truyện ngay từ khi còn là cậu bé mười hai tuổi, yêu thích đến mức thuộc lòng mấy bộ “Tây du ký”, “Tam Quốc diễn nghĩa”, “Thủy Hử”. Cậu học sinh giỏi văn ấy từ thời đi học đã được thầy cô khích lệ, bạn bè thán phục vì những mẩu chuyện đăng trên báo tường của lớp, nội san của trường. Chính sự ủng hộ ấy đã truyền cho Nguyễn Trí niềm tin và mơ ước cháy bỏng đến một ngày sẽ trở thành một nhà văn thực sự. Thế nhưng, cuộc đời đã vội cuốn cây bút đầy tiềm năng ấy vào những bon chen nhỏ nhặt. Kinh tế khó khăn đến mức không đủ điều kiện tiếp tục theo đuổi sự nghiệp học hành, cũng từ đó mà buộc phải tạm giã từ “trò chơi viết lách”. Rồi lập gia đình, có vợ, sinh con, nỗi lo miếng cơm manh áo càng khiến con người ấy không đủ thời gian và tâm trí để nhớ lại mộng ước thuở nào. Thế nhưng, chính những tháng ngày lặn lội khắp nơi vì kế mưu sinh lại cũng là lúc hồn văn ấy được bồi đắp, bằng chất sống quý giá của hiện thực và sự chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời và con người. Nỗi đau mất con, nỗi buồn nhìn con nghiện ngập vào tù ra tội để lại những vết thương sâu trong lòng con người đa cảm. Nhuận bút đầu tiên đến tay Nguyễn Trí cũng là dành cho lời tâm sự chân thành của ông về nỗi lòng của một người cha bao dung dù thương con nhưng vẫn sẵn sàng tha thứ cho kẻ đang tay đâm chết con mình.

Riêng với nghề tìm trầm và đào vàng, Nguyễn Trí gắn bó suốt hơn mười năm lăn lộn. “Bãi vàng, đá quý, trầm hương” chính là sự kết tinh từ những năm tháng ấy. Những câu chuyện kể về cảnh sống nay đây mai đó, từng bước đi là từng bước hiểm nguy, không chỉ phải đối mặt với sự đe dọa của thiên nhiên mà hơn thế, phải đối diện với lòng tham của con người. Người viết đưa vào tập truyện của mình vô số phận người bị dồn đẩy vào cảnh đời phiêu bạt. Những trang văn khi thì hào sảng một tinh thần phóng khoáng trượng nghĩa, khi thì đậm chất lãng mạn với những mối tình say đắm mà thoáng qua, khi lại thoảng một nỗi nhớ quê da diết của những kẻ tha hương. Và rất nhiều khi, lại ảm đạm nỗi oan trái của cuộc đời và kiếp người, những tranh chấp khốc liệt và cả những giọt nước mắt hối hận trước tình chiến hữu, trước tình yêu trong sáng, trước sự tàn diệt thiên nhiên... Câu văn cứ thế tuôn trào từ những rung động và nghĩ suy chân thành nhất, ngồn ngộn sự sống và đậm chất địa phương trong ngôn ngữ, lối nói, giọng điệu,... Và đó cũng chính là điều làm nên nét duyên vùng Nam Trung Bộ cho văn xuôi Nguyễn Trí.

ĐẶNG THỊ THÁI HÀ