 |
|
Hàng Bạc, nơi hội tụ của dân làng Trâu Khê, Đồng Sâm và Định Công. Ảnh: THU HÀ
|
Tôi là dân Hà Nội gốc!
Khẳng định như thế, bởi lẽ, việc mà tôi định bàn là chuyện về Hà Nội, về người Hà Nội. Việc tuyên bố mình là người Hà Nội gốc, không phải để khoe khoang. Chỉ để cho nó có vẻ khách quan và đỡ mang tiếng là kẻ vơ vào!
Người Hà Nội là ai? Hay Hà Nội vốn là gì?
Hà Nội là Thủ đô, đồng thời cũng là thành phố lớn thứ hai Việt Nam về dân số. Thuộc đồng bằng sông Hồng trù phú, nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam.
Trong thời kỳ phong kiến, Hà Nội trở thành trung tâm chính trị của đất nước khi viên đô hộ Cao Biền cho mở rộng Đại La thành vào năm 866 và đặt tại đây đại bản doanh của chính quyền đô hộ Trung Hoa.
Năm 1010, Lý Công Uẩn, vị vua đầu tiên của nhà Lý, quyết định xây dựng kinh đô mới ở vùng đất này với cái tên Thăng Long. Trong suốt thời kỳ của những triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành Thăng Long là nơi buôn bán, trung tâm văn hóa, giáo dục của cả miền Bắc. Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì, kinh đô được chuyển về Huế và Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội từ năm 1831, dưới thời vua Minh Mạng.
Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch lại. Trải qua hai cuộc chiến tranh, Hà Nội là Thủ đô của miền Bắc rồi nước Việt Nam thống nhất và giữ vai trò này cho tới ngày nay.
Vài dòng trên, để định nghĩa Hà Nội. Nay xin thêm ít dòng nữa, để định nghĩa người “Hà Nội”. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết nhỏ này, chỉ xin gói ghém trong phạm vi phố cổ, tức là “Hà Nội 36 phố phường”.
Hà Nội là nơi “đất lành chim đậu”, mang đặc trưng của một đô thị lớn. Mà theo quy luật chuyển dịch của cuộc sống, nơi đâu làm ăn được, nơi đó sẽ tập trung dân tứ xứ đổ về. Bởi lẽ đó, ngoại trừ một số ít “dân bản địa” vốn sinh sống tại khu vực 36 phố phường, số còn lại, chủ yếu là dân ở các làng nghề khắp nơi hội tụ.
Dưới thời Lê, dân làng Trâu Khê (nay thuộc huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương) lên đất Thăng Long cư trú và làm nghề đúc bạc. Sau thêm, người Đồng Sâm (Thái Bình) và người làng Định Công (Hà Nội) đến sinh sống sản xuất đồ mỹ nghệ kim hoàn, hình thành nên phố Hàng Bạc chuyên đúc bạc, đổi tiền và làm đồ mỹ nghệ kim hoàn-phố nghề nổi tiếng đất Thăng Long.
 |
|
Hàng Thiếc-phố của làng người Phú Thứ, huyện Hoài Đức xưa.
|
Dân phố Lò Rèn là người gốc làng Hòe Thị (làng Canh, huyện Từ Liêm) có nghề cổ truyền đặt bễ rèn các đồ dân dụng bằng sắt. Ban đầu, phố Lò Rèn là hai dãy nhà tranh, lơ thơ mấy chiếc nhà gạch nhỏ. Người Hòe Thị ra làm ăn đông, phố Lò Rèn ngắn và chật, họ ở rải rác ra nhiều phố khác và ở các cửa ô (như phố Sinh Từ, Cửa Nam, Khâm Thiên, Sơn Tây, Ô Đống Mác...).
Vào khoảng giữa thế kỷ 18, một số người làng Hà Vĩ (phủ Thường Tín, Hà Đông) có nghề cổ truyền làm đồ gỗ sơn, ra Hà Nội lập nghiệp, đến ở phố Hàng Hòm. Về sau thêm cả người làng Đa Sĩ.
Phố Hàng Thiếc là phố của thợ thủ công chuyên nghề đúc thiếc làm những cây đèn thắp dầu lạc, chân nến, lư hương, ấm pha chè, khay đựng đồ uống chè, bao chè, chóp nón... Họ đa số là người làng Phú Thứ, huyện Hoài Đức.
v.v…
Lịch sử người dân phố cổ Hà Nội là vậy! Ban đầu, cũng là những người “nhà quê”. Ban đầu, những người “nhà quê” ấy cũng mang theo mình những tính cách “nhà quê”. Thế nhưng, mảnh đất họ đến cư ngụ không giống với nơi họ sinh ra. Đó là kinh kỳ! Kinh kỳ mang những đặc trưng của vùng đất hội tụ tinh hoa cả nước. Bởi lẽ ấy, cuộc sống, tính cách con người kinh kỳ cũng mang dáng dấp tiêu biểu cho cả dân tộc. Để tồn tại và phát triển được ở đất kinh kỳ, người “nhà quê” phải cọ xát, đua trí, đua tài và văn minh lên. Và dần, nét tài hoa, tính sành mặc, sành chơi, sành ăn, sành làm thấm dần vào thế hệ người “nhà quê” thứ nhất. Đến những thế hệ tiếp theo được sinh ra ngay trên chính đất Hà Nội, chất kinh kỳ ngày càng nổi trội. Và cuối cùng, qua nhiều thập kỷ, thế kỷ, những người gốc gác “nhà quê” thành người “Hà Nội gốc”.
Lịch sử hình thành nên cư dân Hà Nội, nhiều phần là vậy!
Hà Nội đang rộng mở, người các tỉnh ào ạt đổ về. Hà Nội chộn rộn hơn, chật hẹp hơn, đa tính cách hơn. Tốt có, xấu cũng có. Tuy nhiên, đó là quy luật tất yếu! Lịch sử hình thành và phát triển đô thị nào chẳng vậy. Để rồi, như lịch sử, người “nhà quê” phải liên tục thích nghi với môi trường mới để đối phó với quy luật đào thải mạnh mẽ của đất kinh kỳ. Để rồi, những gì tinh túy, tài hoa mới có thể trụ lại để trở thành cái chất “người Hà Nội”.
HUY ĐĂNG