QĐND - Cũng khá lâu tôi mới có dịp trở lại Sóc Sơn. Lâu đến mức cảnh vật con người thay đổi thì chưa nhưng sự ngỡ ngàng hiển hiện từ cái chợ Tạm thì có. Chợ ấy xưa từng là nơi để tôi trút mọi vui buồn. Tôi vẫn thèm một phiên chợ mùa đông sịt soạt bên chén rượu trắng với bắp ngô nướng tận hưởng không khí bận bịu của mấy chị hàng xén. Nói là đất Hà Nội cho sang chứ thực tình mấy xã xung quanh huyện Sóc Sơn còn nghèo lắm. Xã nơi tôi đóng quân thuộc loại nghèo nhất nhì huyện. Vậy mà tôi vẫn yêu mảnh đất ấy. Phải! Chính mảnh đất ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi.
* * *
Tôi chả phải nghe đồn về anh làm gì vì tôi tin anh. Ở con người anh dứt khoát không bao giờ có hành vi xấu. Ừ, cứ cho là anh về hưu non. Về hưu non! Nghe cứ ỡm ờ như mắc tội nợ gì không bằng. Sau cái đận gãy chân ở lò gạch, cấp trên cũng muốn cho anh nghỉ. Hiềm nỗi, anh nghỉ là bỏ việc. Thành thử anh phải lần lữa đến tận bây giờ.
Vậy khi anh được về hưu mọi người cũng nên mừng cho anh mới phải.
Thế mà tôi lại phải nghe những lời nói khác. Nào anh là người cứng đầu cứng cổ nên “trên” tẩy đi. Nào anh là người biết nhiều, hiểu nhiều về số gạch quy tiền trong xây dựng cơ bản trên thị trường người ta “thịt trước”. Lại có kẻ độc miệng bảo anh tranh chấp nhà tình nghĩa với mẹ Việt Nam anh hùng nên bị thất sủng. Ôi chao cái miệng con người!
* * *
Tôi chỉ còn nhận ra chợ Tạm nhờ cái cột cây số. Chợ đã khác đi nhiều. Phong quang, sáng sủa và đường bệ hơn ngày nào. Tôi định bụng rẽ vào một quầy tạp hóa, mua chút quà gì.
- Hải! Thằng Hải!
Tôi đờ ra, ngơ ngác nhìn cái giọng quen khàn khàn chỉ có ở anh thì chiếc xe đạp tòng tọc đã chận ngay phía trước.
- Anh! Anh Tấn!
 |
Tôi giơ tay bắt ngắm anh thật kỹ. Vẫn thế! Anh Tấn của tôi vẫn thế. Hình như anh hơi trắng ra thì phải. Ngày còn ở lò gạch, anh thường chui mình trong bộ rằn ri rộng thùng thình, chân lại rất hay tập tễnh, tóc bạc phếch màu than, màu đất. Thường những ngày đốt lò anh ở luôn tại đó. Tôi bắt đầu thân với anh trong những đêm gác dài dặc. Tôi ra lò với anh, giúp anh chạy than chạy củi. Cái đêm anh bị gãy chân, tôi và “sếp phó” của anh phải dầm mưa dầm bão đến kiệt sức. Ai đời gãy chân sưng húp lên mà cứ gạt phắt chúng tôi đi, đòi đi chạy gạch, che gạch. Khi cơn giông ập đến cũng là lúc tôi đổi gác. Buổi chiều, chúng tôi đã đóng cố một sân than. Tôi ôm súng lao về phía bãi than trong tiếng sấm ì ùng lằn chớp dọc ngang tứ phía. Tôi sững người khi thấy dáng lỏng khỏng của phó lò Sậm cuống quýt xốc anh về căn lều vẹo vọ. Át cả tiếng mưa gió là cái giọng khào khạo của anh: “Mặc mẹ tao, không kịp che than, mai chúng nó lại mất ngày chủ nhật”. Anh Sậm không nói nửa lời. Tính anh thế. Khi cấp bách bực tức chỉ gườm gườm nhìn trời rồi lao vào công việc. Nhưng đã quen với tính bẳn gắt của ông chủ lò, tôi cũng chấp thuận một cách bản năng với trò dầm đất dầm cát ấy.
Chúng tôi khiêng anh về trạm xá đơn vị xộc xệch thất thểu như những kẻ bại trận. Một cảnh khôi hài diễn ra. Anh ngồi trên cây tre tay vịn vào một cây tre khác. Chúng tôi néo hai cây tre vào nhau để khiêng cho thuận.
Anh Tấn ơi! Kể ra ông phó của anh và tôi cũng tốt nhịn đấy chứ. Anh chả gãy chân ấy à, chúng tôi đã quẳng anh đi cho được việc. Đằng này, cái miệng anh cứ khào khạo lãnh đạo hai thằng đã lử lả. Nom chúng tôi có khác gì quân đạo tặc mà anh còn bảo công tử bột chỉ quen ăn chơi.
Nói đến cái tính ruột ngựa của anh là nhớ lần tôi ốm, đi qua bốt gác thấy tôi gục xuống, anh kéo tai như chấn chỉnh tác phong thì thào: “Trưa nay ra ăn thịt vịt”. Tôi gượng dậy, quờ tay tìm khẩu súng loạng choạng. “Mày ốm à?”. “Vâng”. “Để tao gác cho, trưa ai biết?”. Tôi trao súng cho anh đi được hơn trăm mét thấy tiếng quát tháo loạn xị. Gượng quay lại thì trời ơi, anh Tấn súng giương lên, mắt đỏ ngầu. Ông chủ thầu xây dựng mặt cắt không giọt máu lập cập bên đống vỏ xi măng. Phía bụi rậm có tiếng loạch xoạch, rõ là có người trong đó.
Anh chĩa súng vào bụi, lên đạn loánh choách.
- Tao bảo mày chui ra.
Tôi hoảng hốt quát giật giọng.
- Anh Tấn! Bỏ súng xuống!
Có lẽ chưa bao giờ tôi gầm gào nên anh sựng lại. Tôi giật phắt khẩu súng, kéo khóa an toàn, mắt nảy đom đóm nhìn anh.
- Anh làm cái trò gì thế?
Thấy chuyện ồn ã, nhiều người chạy ra, cả chỉ huy cũng chạy ra. Vỡ chuyện là anh chủ thầu bán chui vỏ bao xi măng cho chị đồng nát. Cũng may chưa có chuyện gì xảy ra.
* * *
- Này! Nghĩ ngợi gì thần mặt ra thế. Tao lạ lắm à? Vào quán.
Vẫn cái giọng chủ lò ngày nào (cái giọng quả quyết dứt khoát như sư trưởng điều quân lên cao điểm).
- Mày về tìm hiểu việc tao nghỉ chứ gì? Nói thật nhé. Làm thằng lính, trên bảo tiến là tiến, bảo nghỉ là nghỉ cho khỏe chứ cớ sao mà tìm hiểu.
Tôi chưa nói gì, rót thêm rượu cho anh. Ở cái đơn vị này, ai chả quý anh. Riêng cái khoản đầu tàu đóng, đốt hàng trăm lò gạch để có cơ ngơi khang trang như bây giờ trên cũng đã biết. Tôi đây chứ còn ai nữa đã từng viết truyện viết báo về anh.
Hôm nay, anh Tấn nói rất nhiều với tôi. Anh nói anh vẫn theo dõi quá trình viết lách của tôi. “Lẽ ra anh đã truyền nghề đốt gạch cho chú”. Tôi cười khùng khục. Nghề nào mà chả có duyên có nợ hả anh Tấn. Như tôi đây, trốn thế nào được cầm cây bút. Tôi cũng có những chỗ khó của tôi. Thì chỗ khó xử của anh là gì vậy? Hay là anh Sậm?
Đang trầm ngâm triết lý bỗng anh tươi tỉnh hẳn lên khi nhắc đến Sậm. “Ôi dào! Thằng thánh vật ấy đã ổn rồi chú ạ. Con vợ ở quê lên đã xin được việc, hai đứa con dạo này đã hết sài đẹn. Trần đời chưa thấy ai chịu khó như nó mà vẫn khổ. Mày tính, lương trung úy chuyên nghiệp nuôi bốn miệng ăn. Được cái làm ăn có trách nhiệm. Nói thật với chú, nó là đứa sáng dạ, bây giờ tao nghỉ đã yên tâm rồi”.
Thì ra anh nghỉ chỉ vì đã truyền được nghề cho ông phó lò của mình ư? Anh nghỉ đã chắc gì nhàn thân hơn. Thời cơ chế thị trường này, một người lính chỉ quen nếp sống đơn vị khi lăn vào xã hội sẽ thế nào nhỉ? Chẳng lẽ việc anh đã bàn với tôi cũng bỏ dở ư? Việc cả đời anh cơ mà. Cái việc anh sẽ đón chị và các cháu ở miền Trung ra đây đã đến đâu rồi?
Hôm tôi và anh vào Phòng Giáo dục huyện xin chuyển dạy cho chị họ đã chấp thuận. Các con anh, ở đây đã sốt sắng nhận. Tôi cũng đã hơi say thì phải. Hỏi một mạch, chất vấn anh một mạch để làm gì kia chứ.
- Thế mày về đây dịp này làm gì vậy? - Anh đột ngột cắt ngang lời tôi.
- Ờ, anh quên à. Ngày mai đơn vị mình trao nhà tình nghĩa cho các mẹ.
Anh nhìn tôi rồi thao thiết nhìn về phía đơn vị. Ở đó đã sáng lên một màu mới. Màu của nhà cửa kề nhau vững chãi và những cánh tay ăng-ten giơ lên ngạo nghễ, đông đúc lạ thường. Giọng anh gần như nghẹn lại.
- Chiều nay, tao về trong ấy rồi Hải ạ.
Trời! Anh Tấn. Anh nói gì vậy? Ngày mai đơn vị trao nhà tình nghĩa cho các mẹ và một căn nhà cho anh kia mà. Anh sẽ đón gia đình về đây như dự tính chứ. Ở đơn vị này, các hộ gia đình đã có nhà. Duy anh cứ thủy chung bám chốt lò gạch. Trên đã chủ tính xây ba ngôi nhà, trong đó tặng anh một ngôi. Trên bảo anh cũng đồng ý nhận, anh báo trên sẽ đón vợ con ra. Bây giờ làm thế nào hả anh Tấn? Cả tôi nữa, sẽ viết thế nào đây?
* * *
Chiếc xe u oát của người chỉ huy trưởng xịch trước quán. Vẫn cái dáng đi băm bổ ngày nào. Anh bắt tay anh Tấn, bắt tay tôi, khen tôi viết gương biết khai thác người thực việc thực ở đây thì chẳng gì giấu nổi. Chỉ huy trưởng khoát tay.
- Ta ra sân bay kẻo muộn. Rồi cho thằng Hải biết luôn.
Câu chuyện mà tôi đoán mò ấy thực ra rất đơn giản. Đơn giản như tôi thường bất ngờ về anh. Tại sao anh là bạn chiến đấu của chỉ huy trưởng mà tôi không biết. Sống với nhau mười mấy năm mà người nào việc nấy, anh cứ lặng thầm lủi thủi ở lò gạch, “trọng điểm” của đơn vị. Đã nhiều lần tôi thấy chỉ huy trưởng quát anh về chuyện gạch sống, mái dột anh không nói gì, chỉ nghiêm túc thực hành mệnh lệnh. Bạn bè với nhau sao không kéo nhau về ban nọ ban kia cho nhàn. Lại tại cái duyên cái nghiệp. Thật chẳng hiểu các bố nghĩ gì. Thế còn căn nhà, dự tính một đời của anh? “Cho thằng Sậm”. “Hả?”. “Thì mày tính vợ chồng con cái nó đã ra đây ở đây. Nó thay được tao thì tính gì cái nhà. Mày bảo tao một thân một mình chuyển thì dễ, đã già, đã lẩm cẩm về với mẹ đĩ với lũ con là tiện nhất. Nó còn trẻ, đời còn dài nên tao ra đi là đúng phải không?
Tôi ngồi đực ra, lẩm nhẩm. Cha này gớm thật. Hóa ra mọi tiếng đồn cũng chỉ là anh tạo ra để rút cho dễ. Chỉ huy trưởng khìn khịt cười bảo tôi: “Mày tính, tao với nó sống chết đã gần ba mươi năm, tao lạ chó gì nó. Quyết cái gì là quyết bằng được, có mà trời gàn”.
Tạm biệt ở sân bay, anh Tấn nhìn vào mắt chúng tôi, nói với chỉ huy trưởng:
- Mày ráng mà lo cho anh em, cho tao gửi lời chúc mừng vợ chồng nó.
Rồi anh lẫn hút vào dòng người sang trọng. Chiếc ba lô bạc phếch theo anh gần ba mươi năm kềnh kệnh trên lưng. Vạt tóc muối tiêu nhòa trong nắng.
Truyện ngắn của PHÙNG VĂN KHAI