Bìa cuốn sách

Ngôi nhà ấy ở số 6 phố Lý Nam Đế (Hà Nội) sát tòa nhà ba tầng của Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân chúng tôi bên số 8. Mười lăm năm về trước, bên ấy là ngôi nhà một tầng, từ bàn làm việc bên này, chúng tôi thỉnh thoảng lại nhìn qua khoảng không dưới chân cây cơm nguội sang mái ngói thâm rêu và bờ tường thấp của hành lang ngôi nhà ấy. Thoáng đãng và yên ấm, không bao giờ ồn ào. Đó là ngôi nhà riêng của Thiếu tướng Trần Công Mân, Phó tổng biên tập, rồi Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân trong hai mươi lăm năm dài. Từ ngày mới về báo, chúng tôi đã thấy đèn bên ngôi nhà ấy luôn sáng rất khuya, khuya hơn nhiều căn phòng ở tòa nhà chúng tôi. Rời phòng làm việc về nhà, đồng chí Tổng biên tập vẫn tiếp tục đọc. Có điều lạ là từ ngày đồng chí Tổng biên tập mất, đã hơn 10 năm rồi, ngôi nhà ấy (đã được xây thành nhà 3 tầng) vẫn sáng đèn rất khuya.

Năm 2009 này, khi bác Hồ Thị Xuân Mùi, vợ Thiếu tướng Trần Công Mân cho ra cuốn hồi ký “Vẹn cả đôi đường” (NXB Quân đội nhân dân), chúng tôi mới rõ ra nhiều điều. Cái cảnh chong đèn đợi chồng đã diễn ra đêm đêm trong suốt 50 năm từ thuở cô cán bộ phụ nữ huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) gặp anh cán bộ tiểu đoàn cao gầy, thư sinh. Một đời đã trọn vẹn nhớ thương, chờ đợi và vẫn đang tiếp nối. Bà vẫn chong đèn để thức, để nhớ thương, và viết, như vẫn có ông.

Chúng tôi biết nhiều chục năm trời bà có cầm bút viết văn, viết báo gì đâu, ngay cả việc bàn bạc, trao đổi về báo chí bà cũng rất kiệm lời, lặng lẽ nghe, đọc và tôn trọng công việc, quan hệ của chồng cùng anh em trong tòa soạn. Thế nên việc bà viết cuốn sách với chúng tôi là một bất ngờ. Một bất ngờ hạnh phúc. Điều bất ngờ nữa là tròn 60 năm sau lần gặp gỡ đầu tiên, cái nhìn, câu nói đầu tiên giữa ông với bà, bà vẫn nhớ rõ từng câu, từng giờ. Từng giờ, từng cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, vội vàng trong 24 ngày phép của anh bộ đội với bà thật hồi hộp, cảm động. Và những giờ phút hiếm hoi ấy đã mãi thổn thức trong bà theo suốt cuộc đời. Thêm nữa, mọi diễn biến trong cuộc đời, từ người cán bộ phụ nữ đến người quân y sĩ, người sĩ quan quân y, mọi dấu ấn gắn với bộ đội công binh, với Viện quân y 354... bà đều ghi lại từng chi tiết, ngày giờ. Những chi tiết ấy, trí nhớ ấy thể hiện sự khát khao phấn đấu vươn lên, cống hiến nơi một người phụ nữ Việt Nam bình dị trong suốt chiều dài kháng chiến. Cuốn sách trải lòng bà chân chất, hồn hậu. Bà kể chuyện chăm sóc mẹ chồng, nuôi con mỗi đứa một nơi sơ tán, kể chuyện tăng gia trồng rau, nuôi lợn... Ở cạnh nhà ông bà, là bạn bè cùng trang lứa với những người con của bà, lại từng là bệnh nhân khoa răng của bà, chúng tôi biết còn nhiều tâm sự, nhiều nỗi khó khăn, lo lắng mà bà phải tất tả vượt qua, nhiều việc làm nhân hậu, nhiều cách chữa trị và loại thuốc bà tự tìm hiểu, nghiên cứu... bà không kể đến trong hồi ký. Cuốn sách bà viết như chủ yếu để hướng về tình yêu với ông, với nhân nghĩa quê hương, đồng đội.

Đọc cuốn hồi ký, chúng tôi thêm hiểu về hậu phương gần gũi nhất của một người làm báo quân đội. Lại hiểu ra vì sao tối nào ông rời ngôi nhà số 6 cũng xách theo phích nước sôi bà đun đem sang phòng làm việc. Và nửa đêm, tiếng mở khóa cổng lách cách, ấy là lúc ông về. Và đèn trong nhà ông bà vẫn sáng.

MẠNH HÙNG