QĐND - Tác giả Nam Ông mộng lục là Lê Trừng, tự là Mạnh Nguyên, biệt hiệu là Nam Ông. Lê Trừng chính là Hồ Nguyên Trừng (1374-1446), con trai cả của Hồ Quý Ly. Sau khi bị bắt giải về Kim Lăng (Trung Quốc), vì có tài chế súng thần công nên được biệt đãi làm quan thăng chức tới chức Thượng thư. Sau khi chết, được người Trung Quốc thờ là tổ nghề vũ khí (trích "Phạm Đình Hổ, Tuyển tập thơ văn", NXB Khoa học xã hội, 1998).
Dù được nhà Minh biệt đãi hòng làm ông quên đi nguồn gốc và dù ngót bốn mươi năm lưu vong nhưng trong sâu thẳm, Hồ Nguyên Trừng vẫn khắc khoải nỗi nhớ cố hương; và ông đã gửi gắm tâm sự giống như một giấc “mộng”. Ông giải thích: “Nhân vật như kiểu trong sách này, xưa (tức trước khi nhà Hồ diệt vong vào năm 1407) nhiều lắm lắm. Nhưng thời thay đời đổi, chút ít dấu vết chẳng còn. Riêng chỉ một mình ta biết mà kể lại, chẳng phải là mộng thì là gì?” (trích bài tựa Nam Ông mộng lục. Viết ngày Trùng cửu (9-9), năm Chính Thống thứ ba, tức năm 1438 đời vua Minh Anh Tông. Chánh nghị đại phu, Tư trị doãn, Tả thị lang bộ Công là Lê Trừng, người Giao Nam, tự Mạnh Nguyên viết lời tựa). Vậy là, Hồ Nguyên Trừng là nhà văn hải ngoại đầu tiên của nước ta?
Hồ Nguyên Trừng cũng nói rõ mục đích viết Nam Ông mộng lục nhằm “cung cấp những dị văn cho người quân tử”. Truyền thống viết dị văn là khuynh hướng thẩm mỹ chi phối sáng tác văn xuôi trung đại toàn khu vực “đồng văn” như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản… Ở Việt Nam, từ thế kỷ X đến XIV, đã có nhiều tác phẩm kể chuyện quái dị như Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái lục… Song, lối viết dị văn chỉ chiếm 20% (6/31 thiên). Phần còn lại (25 thiên), Hồ Nguyên Trừng viết về “người thật, việc thật” bởi ông muốn chứng minh rằng “mộng” Nam Ông là hiện thực 100%, chỉ có điều, giờ đây chúng đã thành ký ức. Như vậy, Hồ Nguyên Trừng là người khép lại khuynh hướng nghệ thuật viết dị văn để viết về những câu chuyện hiện thực với mục đích “ngợi ca những điều tốt đẹp của tiền nhân”. Ông tâm sự: “Có người hỏi: “Chuyện của ngài đều kể về người tốt. Vậy, bình sinh, ngài chưa từng nghe và gặp kẻ không tốt chăng?”. Ta đáp: “Chuyện về người tốt tôi thích nghe, nên nhớ được; người xấu chẳng phải không có, nhưng tôi không nhớ”. Hồ Nguyên Trừng quan niệm dị văn là điều mới lạ; việc làm tốt đẹp của tiền nhân chẳng phải là điều mới lạ hay sao? Nếu Trần Thế Pháp viết Lĩnh Nam chích quái lục nhằm hai mục đích “khuyến thiện” và “trừng ác” thì Hồ Nguyên Trừng viết Nam Ông mộng lục chỉ để “khuyến thiện”. Vì thế, con người Việt Nam trong tác phẩm Nam Ông mộng lục hiện ra với vẻ đẹp tâm hồn cao quý.
Đọc Nam Ông mộng lục, ta có thể kết luận Hồ Nguyên Trừng là người Việt Nam đầu tiên viết thể loại thi thoại (giai thoại thơ ca) với 13/31 thiên chiếm 42%. Nhân vật trong các thi thoại của Hồ Nguyên Trừng có thể là vua, quan và có cả tướng lĩnh. Nhờ đó, giúp hậu thế lưu giữ 20 bài thơ thời Trần; trong đó, có bài thơ thể lục ngôn cực kỳ hiếm gặp của tướng quân Mạc Kí (bản dịch của PGS, TS Nguyễn Đăng Na):
Giang ngạn mai hoa chính bạch,
Thuyền đầu tế vũ hà phi.
Hành khách tam đông Bắc khứ,
Tướng quân nhất trạo Nam quy.
(Bên sông hoa mai trắng nở,
Đầu thuyền mưa bụi bay nghiêng
Hành khách cuối đông lại Bắc
Tướng quân một mái về Nam)
Với 31 thiên truyện với tổng số chữ là 5.955, tức mỗi truyện chỉ dài 192 chữ, chủ yếu là truyện từ 59 chữ đến 198 chữ, chiếm 70%. Cho nên, thật dễ dàng kết luận Hồ Nguyên Trừng là người Việt Nam đầu tiên viết truyện ngắn mi-ni (very short story). Dù viết ở thời trung đại, song đã là truyện ngắn mi-ni thì dĩ nhiên cần một sự tiết kiệm tối đa chữ thông qua việc “nén” sự kiện; song khi kết thúc truyện vẫn có ý nghĩa sâu sắc.
Chẳng hạn truyện 67 chữ mang tên Văn tang khí tuyệt (bản dịch của PGS, TS Nguyễn Đăng Na):
Con gái Trần Thái Vương (tức vua Trần Thái Tông-N.Đ.N chú) hiệu là Thiều Dương, khi mới ở cữ thì Thái Vương đã ốm mười tháng rồi. Bà nhiều lần sai người đến vấn an vương, nhưng người hầu đều nói dối:
- Vương đã bình phục, không sao cả.
Đến hôm vương mất, bà bỗng nghe có tiếng chuông đổ hồi, hỏi:
- Há chẳng phải vương đã qua đời sao?
Người hầu lại nói dối. Bà không nghe. Rồi khóc thương kêu gào đến đứt hơi, nhắm mắt lại mà đi.
Đọc truyện này, ta dễ nhận ra chân dung một người con hiếu thảo. Ngày nay, với tư duy hiện đại, chúng ta có thể thấy lối viết và lối kể trên quá đơn giản, thiếu chiều sâu; song, nên nhớ, truyện trên viết cách đây hơn 500 năm với đặc trưng nghệ thuật của văn xuôi trung đại khi tính cách nhân vật bộc lộ qua lời nói, việc làm mà không có miêu tả, bình luận của người viết.
Giá trị của tác phẩm Nam Ông mộng lục hẳn nhiên còn ở các lĩnh vực khác như: sử học, triết học, dân tộc học… Song, nếu nhìn ở bình diện văn học với những đặc sắc nghệ thuật mới trình bày, Nam Ông mộng lục xứng đáng là một tác phẩm văn xuôi độc đáo của văn học trung đại Việt Nam.
HÀM ĐAN