Từ một bài viết của nhà phê bình, họa sĩ Phan Cẩm Thượng, Báo Lao động mở diễn đàn trao đổi rộng rãi và đã nhận được sự hưởng ứng của các nhà phê bình, họa sĩ: Vũ Giáng Hương, Lê Anh Vân, Trần Lưu Hậu, Đặng Xuân Hòa, Nguyễn Trung, Đỗ Hoàng Tường, Thành Chương, Hà Trí Hiếu, Đỗ Dũng, Hoàng Hồng Cẩm… và các nhà phê bình mỹ thuật: Thái Bá Vân, Lê Quốc Bảo, Dương Tường… Mỗi người một quan niệm, một cách tiếp cận vấn đề, như họa sĩ Vũ Giáng Hương: “Nhận định hội họa Việt Nam đang suy thoái là một nhận định phiến diện và thiếu cái nhìn khách quan”; Họa sĩ Trần Lưu Hậu: “Nhìn bằng con mắt của nhà xã hội học thì quả là hội họa Việt Nam đang ở vào một thời kỳ thăng hoa thuận lợi nhất so với các ngành nghệ thuật khác. Các họa sĩ thỏa sức làm việc và tự chịu trách nhiệm với chính mình. Họ có thể tự tin trình bày tác phẩm của mình trước công chúng trong và ngoài nước… Không phải hội họa chúng ta đang suy thoái mà theo tôi, hội họa Việt Nam đang tìm hướng đi đúng đắn”. Còn nhà phê bình Nguyễn Quân viết: “Mỹ thuật Việt Nam 100 năm qua đã lẽo đẽo đi theo phương Tây rất xa, nay đủ trưởng thành để nhìn vào chính mình”. Đúng nay đủ trưởng thành để nhìn vào chính mình; còn nhận định “mỹ thuật Việt Nam 100 năm qua lẽo đẽo theo phương Tây rất xa”-nếu quả thật là như vậy, chắc chúng ta không thể tôn vinh 18 tác giả được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh và 51 tác giả được Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật. Đó là một trang sử mỹ thuật đẹp trong lịch sử mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Không được phép phủ nhận lịch sử như thế.

“Phố cổ Hội An”-tranh sơn dầu của họa sĩ Đăng Khoát. Ảnh: ĐÔNG HÀ

Chưa hết, Dương Tường còn coi “Nguyễn Quân là người mở đường cho thế hệ trẻ”. Được biết, chính thế hệ trẻ cùng thời với người mở đường đã không thừa nhận về việc họ tự ngộ nhận mình, tự coi mình là người mở đường cho thế hệ trẻ hôm nay. Không tin cứ hỏi những người trong cuộc và các họa sĩ trẻ. Sự ngộ nhận suy tôn lẫn nhau đến thế là cùng. Các cụ ta đã dạy “hữu xạ tự nhiên hương”. Nhà phê bình mỹ thuật Dương Tường có một kiểu lăng xê không giống ai: “Những họa sĩ tài năng nhất Việt Nam” “một thế hệ không mặc cảm” có điều, sống trong thời kỳ đất nước đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế, việc gì mà phải mặc cảm?! Làm nhiều người không khỏi nghi ngờ họ là ai thì cả giới mỹ thuật đều biết. Có điều trong lời tự bạch của một họa sĩ trẻ do Mai gallery giới thiệu đã đưa ra một quan niệm “nghệ thuật là sự chối từ”“cái mà người ta gọi là cảm xúc không có mặt”. Buồn thay nghệ thuật không hiện diện cảm xúc và chối từ thì còn gì là nghệ thuật! Phải chăng đó là chuẩn mực của cái mới, là nghệ thuật tiền phong ư? Là không mặc cảm ư? Vậy nên đánh giá như thế nào về đồng nghiệp trẻ của mình nói chung, họa sĩ Lê Anh Vân: “Phải công nhận rằng trong nhiều triển lãm mỹ thuật, gallery, không ít tác phẩm vội vàng, vô nghĩa, dễ dãi, nghèo nàn, tẻ nhạt”. Còn tôi thì cho rằng “hội họa Việt Nam không suy thoái đã tạo dựng được cái nền rộng, song chưa có đỉnh” âu cũng là một phần hiện trạng sáng tác phê bình mỹ thuật thời mở cửa, một phần của đời sống mỹ thuật hôm nay.

Còn biết bao vấn đề nổi cộm được một số nhà phê bình, họa sĩ đề cập và được trao đổi rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nào là “tranh giá vẽ là lỗi thời”; “tranh đề tài là tranh cúng cụ”; “nghệ thuật sắp đặt trình diễn video mới là đương đại”; “quan niệm về mỹ thuật đương đại”; “điêu khắc ngoài trời, nhất là tượng đài còn nhiều ẩn số”… mà tôi đã trình bày quan điểm của mình trên các bài viết chưa có hồi âm, có nghĩa là chưa có hồi kết.

Quả thật, cái được lớn nhất của phê bình mỹ thuật thời đổi mới và hội nhập quốc tế là có một diễn đàn phê bình mỹ thuật. Dù muốn hay không cũng là một thước đo chính xác về sáng tác và phê bình mỹ thuật. Một môi trường nghệ thuật sống động kích thích sáng tạo và phê bình mỹ thuật. Bên cạnh cái được thì sáng tác và phê bình mỹ thuật còn nhiều bất cập về quan niệm, nhận thức lý luận, đã thực sự bộc lộ rõ nét trong thực tiễn sáng tác và phê bình mỹ thuật của chúng ta.

Các nghị quyết của Đại hội Đảng và hội nghị Trung ương, chúng tôi luôn được học và quán triệt, chứng tỏ sự quan tâm của Đảng đối với các văn nghệ sĩ. Song, tự thân chúng tôi có “sinh ư nghệ tử ư nghệ” mấy cũng lực bất tòng tâm. Phải có chính sách đầu tư thỏa đáng may ra cùng với thời gian mới xóa được gánh nặng tâm lý “lý luận phê bình nghệ thuật luôn yếu kém, nhiều bất cập”. Song khắc phục yếu kém đó tất cả tùy thuộc vào thiết chế đặc thù đối với chuyên ngành nghiên cứu phê bình nghệ thuật. Nếu không mãi sẽ vẫn là “phê bình nghệ thuật còn nhiều bất cập và nhiều yếu kém”. Tất nhiên giới phê bình nghệ thuật phải tự vượt chính mình.

Đôi điều của một người đã hơn nửa thế kỷ gắn bó với giảng dạy, nghiên cứu, phê bình mỹ thuật mong được đối thoại rộng rãi, có điều chưa tới xin được lượng thứ.

LÊ QUỐC BẢO