Môn Mỹ thuật là môn học thị giác, học sinh cảm nhận cái đẹp về hình thể và màu sắc thông qua con mắt của mình. Đây là một lĩnh vực không thể thiếu trong đời sống hiện nay, nhất là khi nhu cầu về cái đẹp ngày càng phát triển và mang tính thực tế cao.

Ở Việt Nam, cùng với sự đổi mới chương trình, sách giáo khoa, GDNT đã góp phần vào việc giáo dục thẩm mỹ, nâng cao đời sống tinh thần cho học sinh. Tuy nhiên, để giáo dục thẩm mỹ phát huy hiệu quả trong nhà trường không đơn giản.

leftcenterrightdel
 Họa sĩ Nguyễn Tuấn Sơn bên những học trò của mình.

 

Mỗi lứa tuổi, mỗi cá nhân lại hình thành một thế giới quan, nhân sinh quan khác nhau trong quá trình tiếp xúc với nghệ thuật. Với hơn 20 năm giảng dạy, họa sĩ Nguyễn Tuấn Sơn, giáo viên mỹ thuật Trường THCS & THPT Nguyễn Tất Thành (Hà Nội) cho rằng: Không nên hiểu giáo dục mỹ thuật chỉ là dạy vẽ, đào tạo các em thành họa sĩ, mà mỹ thuật giúp các em biết cách cảm nhận cái đẹp từ những thứ gần gũi của cuộc sống cho đến những tác phẩm nghệ thuật. Từ đó, các em biết tạo ra cái đẹp theo năng lực, sự sáng tạo của bản thân, hình thành lối sống tích cực hơn.

Mọi nền tảng tri thức, kể cả thẩm mỹ không phải tự nhiên sẵn có mà phải được giáo dục có hệ thống, có quá trình, mà điều kiện chủ yếu nhất là phải thông qua hoạt động thực tiễn, nhờ đó mà quan điểm thẩm mỹ của con người ngày càng thêm phong phú. Theo họa sĩ Tuấn Sơn, mỗi trẻ có khả năng, trình độ và sở thích khác nhau nhưng đa số có cùng thói quen ở mỗi độ tuổi. Nắm bắt được điều ấy, giáo viên sẽ giúp các em hình thành được thói quen tốt. Chẳng hạn như trẻ từ 2,5 đến 10 tuổi cần được hướng tới những kỹ năng về mảng và xử lý màu; từ 11 đến 15 tuổi là lúc tiếp thu hình ảnh tốt nhất; trên 16 tuổi sẽ tập trung vào các thói quen chuyên biệt. Học mỹ thuật không chỉ vẽ mà các em được tham gia vào các hoạt động, dự án học tập. Điều ấy giúp trẻ hình thành nên tư duy, suy nghĩ về công việc sau này.

Cũng theo họa sĩ Tuấn Sơn, trẻ em thường cảm thấy mông lung không biết các môn học được vận dụng như thế nào trong cuộc sống. Nhưng khi biết sẽ vận dụng những thứ đã học vào đâu, các em sẽ phát huy được thế mạnh. Mỹ thuật không chỉ giúp hình thành tư duy lãnh đạo, tư duy tưởng tượng, cảm thụ, đặc biệt là tư duy sáng tạo và vận dụng, mà còn là phương tiện phản ánh những diễn biến trong tâm hồn các em.

Không chỉ giới hạn trong không gian lớp học truyền thống, thông qua các trung tâm, câu lạc bộ nghệ thuật tổ chức theo chủ đề, các sự kiện, dự án đã tạo không gian mới cho học sinh bộc lộ năng khiếu. Có thể nói hoạt động dạy vẽ mỹ thuật đang thu hút nhiều lứa tuổi khác nhau, từ trẻ em, học sinh ôn thi mỹ thuật, người đã đi làm hay chỉ đơn giản là người yêu thích mỹ thuật.

Tuy nhiên, điều đáng nói là đến nay việc dạy mỹ thuật, dù có chỗ đứng trong chương trình giảng dạy học sinh, nhưng trên thực tế vẫn rất lép vế so với các môn học khác. Thật hiếm thấy các trường học hiện nay nếu có điều kiện đầu tư lại nghĩ tới một phòng học vẽ. Học sinh bị áp lực thi cử, học hành đè nặng nên phải thật “rảnh” mới học vẽ. Còn giáo viên dạy mỹ thuật ở nhiều trường không chỉ thiếu mà còn yếu, khiến môn học chỉ mang tính hình thức, mất đi sự sáng tạo, năng lực cảm thụ của học sinh.

Mục tiêu giáo dục toàn diện sẽ không thực hiện được nếu những đứa trẻ chỉ miệt mài với những con số mà không có đời sống tinh thần tươi sáng, biết trân quý cái đẹp. Bởi vậy, giáo viên mỹ thuật không gì khác là người “gieo trồng” mỹ cảm cho các em, do đó rất cần sự công phu và tâm huyết. Tất nhiên, để có được điều đó, chắc chắn phải có thay đổi lớn về quan niệm, cũng như chính sách đãi ngộ với các thầy cô giáo dạy mỹ thuật.

Bài và ảnh: THÁI AN