Cụ Trần Hải, 98 tuổi, nghệ nhân dân gian Việt Nam vừa đàn vừa hát ca trù với cây đàn đáy của ông nội để lại gần 100 năm tuổi.

Kẻ Lứ-Yên Lý, nay là làng Ngoại thuộc xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu (Nghệ An), từng có một thời kỳ rực rỡ về ca cầm gắn liền với Giáo phường nhà tơ đại hàng Kẻ Lứ (Giáo phường hát ca trù) của dòng họ Trần từ thời Lê Trung Hưng đến thời nhà Nguyễn. Gia phả của dòng họ Trần Kẻ Lứ đồng thời là Phả của Giáo phường lập niên hiệu Chính Hòa 11 (1690), cùng 12 đạo sắc phong đời Lê và đời Nguyễn phong cho những quản giáp xuất sắc, hiện vẫn còn được lưu giữ nguyên bản gốc bằng chữ Nôm, ở bàn thờ tổ sư của giáo phường tại nhà anh Trần Giang, làng Ngoại, xã Diễn Yên-Diễn Châu.

Nhà thờ tổ họ và lăng mộ ông Trần Đức Lương - Trung, đẳng thần, vốn là một quản giáp xuất sắc có con gái là ca nương nổi tiếng Trần Thị Khoan lấy chúa Trịnh, tọa tại làng Yên Xuân, nay thuộc xã Diễn Phúc (Diễn Châu). Bàn thờ tổ sư của giáo phường và các đình, đền lớn mà Giáo phường nhà tơ đại hàng Kẻ Lứ giữ đặc quyền ca hát ngày xưa như Đình Cháy (Diễn Yên), Đền Cuông (Diễn An), Đền Cờn (Quỳnh Lưu)… đều là những di tích văn hóa ca trù quý giá.

Một thời vang bóng ca nương

Tộc Giáo phường nhà tơ đại hoàng Kẻ Lứ là một giáo phường mạnh, lâu đời, sống bằng nghệ thuật nên rất tôn trọng tài hoa và họ gìn giữ phát triển tài hoa bằng nhiều cách: Con cháu có năng khiếu được bà, mẹ kèm cặp truyền dạy trong nhà ngay từ khi còn nhỏ-Bà Trần Thị Khoan (một ca nương tài sắc lấy chúa Trịnh) đã được bà dì giáo dưỡng “xem cháu bằng con”, nên “Mười lăm phím trúc ngọc tranh, lò bốn biển giá nên bậc nhất”. Họ còn rất chú trọng hỏi vợ cho con trai, cô dâu thường là ca nương dòng dõi. Trong 3 thế hệ họ Trần thuộc tộc phường Kẻ Lứ có 11 bà vợ là ca nương, trong 15 người con gái, 8 con trai thì có 16 là ca nương, 13 quản giáp xuất sắc. Các cô gái ca nương trong đội quân quản giáp người thì lấy chúa, người thì lấy công tôn quý tử, hay quan to, quan hầu tước trong triều. Tuy vậy, trong kinh đô, không chỉ có một mình con cháu họ Trần Kẻ Lứ ca hát hầu chúa được phong sắc, mà còn có nhiều nghệ nhân ở nơi khác cùng về ca hát ở kinh đô, rồi thì trai tài gái sắc họ lấy nhau (trong bản phả của Giáo phường nhà tơ đại hoàng Kẻ Lứ cũng có ghi lại).

Ca trù được vua chúa mến mộ như vậy nên các quan từ triều đình xuống đến tỉnh, huyện đều tung hô hưởng ứng rầm rộ (Thời chúa Trịnh Sâm, đại thần Hoàng Ngũ Phúc nuôi sẵn đào, kép trong nhà, khi có khách quý thì tổ chức hát mừng). Trong nhân dân, việc tổ chức hát ca trù đã trở thành tục lệ được ghi vào hương ước, tộc ước, khắc lên bia đá. Giáo phường nhà tơ đại hàng Kẻ Lứ là một tập thể nghề nghiệp, phát triển từ một dòng họ ca cầm nổi tiếng mà nhân rộng ra các dòng họ khác, bởi thế cũng có khoán ước quy định quyền lợi, nghĩa vụ cho các thành viên: Con cháu họ Trần có ruộng tế điền, còn giáo phường nhân ngoại tộc thì trích tiền đi hát để gây quỹ làm cỗ đem đến cúng tổ sư.

Bà Lê Thị Cung năm nay đã 87 tuổi, một đào nương nổi tiếng có gần 10 năm theo hát cùng Giáo phường nhà tơ đại hàng Kẻ Lứ nay vẫn còn minh mẫn, còn dạy hát ca trù cho con cháu làng Ngoại. Bà nhớ lại: “Cái cảnh đi hát ca trù ngày xưa cũng vui lắm - Giang sơn một gánh giữa đồng… các đào nương với cây đàn đáy vác vai, đầu cần đàn treo túi phách và áo quần, thầy kép ô lục soạn, guốc gỗ lẹp kẹp theo sau đi hát khắp nơi. Hết mùa xuân thì trở về làng. Đến năm 1945, tôi mới 25 tuổi, khi làng, xã tiêu thổ kháng chiến thì các giáo phường, gánh hát nhà tơ cũng rã đám. Ca trù chết giấc cho đến ngày nay”.

Bây giờ đàn lại so dây

Một buổi sinh hoạt của tổ ca trù xã Diễn Yên

Cách đây đã 10 năm, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Nghĩa Nguyên tuổi đã “Cổ lai hi”, quê ở xã Diễn Minh (Diễn Châu), một người đặc biệt tâm huyết với ca trù đã cất công đi đến hầu hết các huyện của Nghệ An và một số nơi ở Hà Tĩnh để sưu tập tư liệu về vốn cổ ca trù. Ông đã tìm về Kẻ Lứ (làng Ngoại-Diễn Yên-Diễn Châu), và ông đã “vớ được vàng”- Đó là bộ gia phả của Giáo phường nhà tơ đại hàng tộc Trần. Rồi ông cùng với nghệ nhân Tăng Gia Tặng và tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm ở Viện Hán nôm Việt Nam biên soạn cuốn “Giáo phường nhà tơ đại hàng Kẻ Lứ-Yên Lý”. Ông cũng đã tìm thấy nhiều ca nương của Kẻ Lứ còn “sót sổ” như bà Trần Thị Bình, bà Trần Thị Sơ (đã mất 1999), bà Phạm Thị Hoa, bà Đoàn Thị Nguyệt, bà Đoàn Thị Áng (mất vào các năm 2000, 2001, 2002), bà Trần Thị Bơ (mất 2003), bà Nguyễn Thị Hạnh (mất 2004); hiện tại có hai người còn sống là cụ Trần Thị Thiềng 84 tuổi và cụ Lê Thị Cung đã 88 tuổi. Ông Nguyên cũng tìm thấy cụ kép Trần Hải sinh 1910 ở làng Đoài – Diễn Liên - Diễn Châu, người đã được kép Quang, người của Giáo phường nhà tơ đại hàng Kẻ Lứ quê ở Kim Lũy (Diễn Kim), dạy đàn đáy cho lúc mới 12 tuổi. Từ những nghệ nhân già này, ông Nguyên đã nhen nhóm gây dựng được một số đào kép trẻ ở Diễn Liên và Diễn Yên, sau đó phát triển ra các xã Diễn Hoa, Diễn An, Diễn Mỹ. Ngay tại làng Ngoại –Diễn Yên, xứ sở của tổ sư Giáo phường nhà tơ đại hàng Kẻ Lứ ngày trước đã gây dựng được một “tiểu hàng” ca trù với 6 đào nương và 3 kép; đây là nòng cốt cùng với các đào kép ở Diễn Liên để lập nên câu lạc bộ ca trù Diễn Châu. Tuy các đào kép ở Diễn Yên hiện nay không có ai trong dòng tộc họ Trần Kẻ Lứ, nhưng các ca nương và kép trẻ rất tự hào với truyền thống hát nhà trò, nhà tơ của ông cha ngày xưa, và họ rất say sưa luyện đàn, luyện giọng để thi thố với các “tiểu hàng” ở các xã bạn. Một điều thú vị là trong “tiểu hàng” ca trù của Diễn Yên có hai gia đình cả vợ chồng, con cái đều chơi đàn đáy và hát ca trù. Ông kép Lê Đức Cẩu 60 tuổi cùng vợ là Nguyễn Thị Cẩm 55 tuổi đam mê ca trù đến mức sắm đầy đủ áo quần, khăn đóng, đàn đáy, trống phách và cả âm ly, loa, micro để tự biểu diễn như một gánh hát nhỏ. Đặc biệt gia đình ông Phạm Tài Khoản có vợ và con dâu là ca nương, còn ông và đứa con trai đang học lớp 11 là hai kép của “tiểu hàng” Diễn Yên đã không ít lần “mang chuông đi đánh đất người” tại các lễ hội, đình đám trong và ngoài huyện.

“Giang sơn một gánh giữa đồng…”, đi hát ca trù bây giờ không còn cảnh đào nương đàn đáy vác vai, đầu cần đàn treo túi đựng phách và quần áo, không còn cảnh thầy kép ô lục soạn, loẹt quẹt guốc gỗ theo sau nữa. Cây đàn đáy “đời mới” cùng với âm thanh “tính tang, tang tính” thuở nào, và giọng ca mềm mượt của lớp đào nương trẻ đang làm “cháy” lòng những “quan viên” thời hội nhập!

Bài và ảnh: TRẦN CẢNH YÊN