QĐND - Tranh dân gian Việt Nam là kho tàng nghệ thuật có giá trị đặc sắc, phản ánh đời sống tinh thần của người dân Việt nhiều thế kỷ qua. Do chịu ảnh hưởng của những yếu tố thời đại, tranh dân gian giờ đây không còn thịnh hành như trước, nghề làm tranh cũng dần mai một, thậm chí có nguy cơ mất hẳn.
Các dòng tranh dân gian xuất hiện từ thời nhà Lý (1009 - 1225), phát triển cực thịnh vào thế kỷ XVII - XVIII, có thời điểm tranh in từ ván khắc được in tới gần hai triệu bản. Tranh gắn liền với đời sống sinh hoạt của người dân, đặc biệt là trong các dịp lễ, Tết. Các dòng tranh nổi tiếng lúc bấy giờ là tranh Đông Hồ (Thuận Thành, Bắc Ninh), tranh Hàng Trống (Hoàn Kiếm, Hà Nội); tranh Kim Hoàng (Kim Bảng và Hoàng Bảng, Hoài Đức, Hà Nội); tranh làng Sình (Phú Vang, Thừa Thiên-Huế). Các dòng tranh được ưa chuộng không chỉ nhờ vào chất lượng, kỹ thuật in mà còn dựa trên những ý nghĩa văn hóa chứa đựng trong tranh.
Ngày nay, khi người dân có điều kiện tiếp xúc với nhiều hình thức nghệ thuật khác nhau thì tranh dân gian dần bị trôi vào quên lãng. Người ta ít thấy những “Đám cưới chuột”, “Đánh ghen”, “Lý ngư vọng nguyệt”, “Tố nữ”,… treo trang trọng trong nhà như trước đây.
Trước nguy cơ các dòng tranh dân gian bị “xóa sổ”, cuối năm 2013 vừa qua UBND tỉnh Bắc Ninh đã có công văn đề nghị Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch) phối hợp thực hiện dự án “Bảo tồn tranh dân gian Đông Hồ”. Đây được xem là tiền đề để UNESCO công nhận nghề làm tranh dân gian Đông Hồ trở thành Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.
 |
| Một trong những bức tranh dân gian Việt Nam, được in trong tổng tập “Tranh dân gian Việt Nam” của Maurice Durand. |
Những ngày cận Xuân Giáp Ngọ, một trong những sự kiện được chú ý liên quan đến vấn đề bảo tồn tranh dân gian Việt Nam là tọa đàm “Tranh dân gian Việt Nam - Tranh bộ ba” do Viện Viễn Đông bác cổ Pháp và Cơ quan Phát triển Pháp tổ chức. Tại đây, các diễn giả đã giới thiệu về hai công trình nghiên cứu, sưu tầm vừa được tái bản là “Bách khoa toàn thư các kỹ thuật in” của Henri Oger với 700 bản tranh khắc về mọi mặt đời sống của người dân Bắc Bộ xưa, đặc biệt là hình ảnh về các nghề thủ công truyền thống; tổng tập “Tranh dân gian Việt Nam” của Maurice Durand với 400 bức tranh dân gian quý hiếm; bản thảo bộ tranh màu chưa từng được công bố “Lục Vân Tiên”, thuộc giai đoạn cuối thế kỷ XIX. Các công trình này đã giới thiệu một số lượng lớn tranh dân gian truyền thống có giá trị của Việt Nam, trong đó có nhiều bức quý hiếm mà hiện nay không còn được tìm thấy ở nước ta.
Những tư liệu này cho thấy tâm huyết cũng như sự đánh giá cao của các nhà văn hóa Pháp đối với dòng tranh dân gian Việt Nam. Đồng thời là sự khẳng định lại những giá trị văn hóa độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc của dòng tranh dân gian. Quan trọng hơn, sự kiện này đã đặt ra một vấn đề lớn đối với những người làm văn hóa về sự mai một của dòng tranh này và những thiếu sót trong công tác bảo tồn tại Việt Nam.
Bàn về vấn đề làm thế nào để bảo tồn có hiệu quả tranh dân gian, Giáo sư Phan Huy Lê-Chủ tịch Hội Sử học Việt Nam góp ý: Thứ nhất, chúng ta cần tiếp tục sưu tầm các tác phẩm tranh dân gian ở trong nước và ngoài nước; thứ nữa, quan trọng hơn, phải bảo tồn nghề làm tranh dân gian, cụ thể là bảo tồn cả về kỹ thuật lẫn nghệ nhân. Cần có chế độ đãi ngộ xứng đáng để người thợ sống được với nghề và tiếp tục truyền nghề cho thế hệ sau. Và điều quyết định là phải làm thế nào nuôi sống tranh dân gian trong đời sống hiện nay. Tranh dân gian phải mang những lợi ích thực tiễn cho xã hội, phải đi vào phục vụ đời sống người dân, phục vụ việc phát triển du lịch…
Như vậy, công tác bảo tồn không phải chỉ có một hai việc, càng không phải chỉ diễn ra trong vài ngày, vài tháng mà là một quá trình. Và quá trình ấy cần có sự chung tay của những người làm văn hóa, của Nhà nước và của cả người dân. Để làm sao cho tranh dân gian nói riêng và những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc nói chung không bị biến mất theo thời gian.
Bài và ảnh: THẢO SANG