QĐND - Vậy là sau hơn 3 tháng (từ ngày 7-10-2013), mở diễn đàn “Văn hóa truyền thống Việt Nam trong dòng chảy hội nhập”, hôm nay diễn đàn tạm thời khép lại. Những người tổ chức, biên tập diễn đàn chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các tác giả tham gia diễn đàn, cảm ơn bạn đọc gần xa đã quan tâm theo dõi, góp ý một cách thường xuyên, chân thành, hữu ích.

Như chúng ta đều biết, dân tộc ta rất coi trọng văn hóa, và đó cũng là sức mạnh thực sự của một dân tộc nhỏ bé nhưng kiên cường, gan góc trước thiên tai, giặc giã hàng nghìn năm qua. Triều đại nào cũng vậy, nếu biết khơi lên sức mạnh của văn hóa dân tộc sẽ thịnh trị, và ngược lại. Sở dĩ Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, trưởng thành, lãnh đạo đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, cũng bởi Đảng đã biết khơi dậy sức mạnh văn hóa của dân tộc. Ngay khi đất nước chưa giành được độc lập, Đảng đã có Đề cương văn hóa (1943); rồi trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng thường xuyên coi trọng, đề cao cuộc cách mạng văn hóa-tư tưởng, có thắng lợi trong cuộc cách mạng ấy mới bảo đảm “thắng lợi về chất” của cách mạng xã hội. Đặc biệt, sau 12 năm đổi mới, mở cửa, xã hội Việt Nam dần hội nhập sâu rộng vào đời sống mọi mặt của thế giới, đặt ra một loạt nguy cơ, thách thức cho đất nước, Đảng kịp thời có Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII- 1998) về Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Nhưng, mở cửa để đón luồng gió mát lành không tránh khỏi bụi bặm, thậm chí là gió độc ùa vào; hòa nhập với thế giới sao cho “hòa” mà không “tan”, không đánh mất mình, không trở thành cái bản sao của ai đó,… là những điều chúng ta trăn trở, lo lắng. Hiện thực đâu đó, những chuyện không vui đã nhen nhóm, đã xảy ra, đã trở thành những “luồng lạch” thách đố dư luận, phai mờ bản sắc, không thể xem thường. Hiện thực, dù đã có chuyển biến và tiến bộ nhất định, nhưng vẫn chưa làm chúng ta yên tâm, thậm chí xuất hiện nhiều mâu thuẫn chưa có lời giải.

Có lẽ cũng từ những nhận thức chung, niềm tự hào chung, mối lo chung về một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nên dù trong muôn vàn sự kiện, vụ việc lớn khác xảy ra trong thời gian mở diễn đàn, tất cả những chuyên gia, những người chúng tôi “gõ cửa” đề nghị tham gia diễn đàn, ai cũng sẵn lòng. Nhiều nhà khoa học còn tích cực tham gia không chỉ một bài; nhiều bạn đọc có trách nhiệm còn chủ động gợi ý, đề nghị chúng tôi nên thế này, nên thế khác… tất cả những điều đó làm cho chúng tôi vô cùng cảm động, để suốt gần 3 tháng qua, chúng tôi gác lại nhiều nội dung thông tin của một tờ báo ngày, đăng diễn đàn gần như đều đặn.

Hôm nay, diễn đàn tạm thời khép lại để chúng tôi chuẩn bị cho một “đợt ra quân mới” trên báo, chúng tôi tạm thời có một chút nhìn nhận đánh giá lại diễn đàn. Sở dĩ là “tạm thời” và “một chút” bởi giá trị của diễn đàn rất lớn, như một hội thảo nghiêm với nhiều nội dung lớn không thể gói ghém trong một bài báo. Vì vậy, xin khái lược những nét chính sau đây:

1- Bức tranh toàn cảnh về văn hóa Việt Nam sau gần 30 năm mở cửa, hội nhập

Các tác giả tham gia diễn đàn đã dày công phân tích những lần dân tộc ta tiếp biến văn hóa thành công từ phương Đông và phương Tây. Những lần tiếp biến ấy, đã có độ lùi lịch sử để nhìn nhận, tương đối sáng tỏ trên những đường nét lớn. Nhưng 30 năm trở lại đây là một giai đoạn đặc biệt trong lịch sử văn hóa dân tộc. Xu thế toàn cầu hóa đã biến cả thế giới như trong một ngôi làng. Chiếc iPhone 5S thông minh nhất thế giới vừa ra đời ở Mỹ sau ít tuần đã có trên tay các bạn thanh niên Việt Nam. Những sản phẩm của thế giới văn minh có mặt cả ở những bản làng heo hút nhất, nơi mà phương thức canh tác vẫn chủ yếu là húng lỗ, tra hạt. Những sự chênh vênh éo le đó thách đố bản sắc văn hóa dân tộc ta. Cần định hướng rõ ràng để tiếp thu có chọn lọc văn hóa thế giới là điều không đơn giản, nhưng không thể không làm.

Vì lẽ ấy mà nhóm bài khái quát về phương pháp tư duy, cách nhìn nhận, đánh giá, kiến nghị… có đông đảo ý kiến tâm huyết, sâu sắc, để lại nhiều trăn trở. Sau bài mở màn của nhà thơ Đỗ Trung Lai “5 ví dụ liên quan đến văn hóa truyền thống và hội nhập” (ngày 7-10) là hàng loạt bài viết, trả lời phỏng vấn của các nhà khoa học, văn nghệ sĩ, nhà báo, nhà quản lý. Những bài đó là: “Nghe ca trù trên iPhone 5!” (Yên Ba); “Giàu có mà thiếu văn hóa là mầm mống của đại họa” (GS, TS, NGND Trần Văn Bính); “Chiếc khuy bấm ấy chẳng làm khổ ai” (Nguyễn Hữu Quý); “Tin tưởng bản lĩnh văn hóa Việt Nam” (PGS, TS Nguyễn Văn Huy); “Học truyền thống để hiện đại hóa” (GS, TS Đặng Cảnh Khanh); “Văn hóa Việt Nam-Một lĩnh vực khoa học, hai xu hướng nghiên cứu” (TS Nguyễn Khắc Thuần); “Việt Nam hóa các giá trị văn hóa nước ngoài” (Đại tá, TS Nguyễn Văn Thanh); “Đôi điều suy nghĩ về giữ gìn bản sắc văn hóa thời hội nhập” (PGS, TS Vũ Nho); “Tôi thèm một khúc dân ca” (Quang Thống); “Thưởng thức văn hóa cũng phải được giáo dục” (GS, NGND Đình Quang); “Còn lại cuối cùng là bản sắc văn hóa” (ThS Nguyễn Công Tho)… Đây là nhóm bài viết có tính khái quát cao về lý luận và thực tiễn. Nhìn nhận khách quan từ thực tế, các tác giả tỏ rõ sự băn khoăn lo lắng về sự xuống cấp của văn hóa trong thời gian gần đây, về sự phát triển văn hóa không tương xứng với kinh tế, văn hóa tụt hậu, lạc hậu, lệch lạc là tác nhân nguy hại bậc nhất cho đường xa vạn dặm của dân tộc.

Quan điểm tương đối thống nhất của các tác giả trong cụm bài này cho rằng cần có sự tác động mạnh mẽ, có chính sách nhất quán trong việc chọn lọc, tiếp thu văn hóa. Nhà thơ Đỗ Trung Lai kiến nghị: “Giá mà trước khi ra nước ngoài, họ được đào tạo kỹ, để thành ra những trí thức Việt hẳn hoi, có đủ (không thể mong là đầy đủ) văn hóa truyền thống, thì khi xuất ngoại du học, họ không bị “đổ” vào bụng mọi thứ để rồi về “vặn vòi ra cho dân mình dùng” một cách thụ động như Nguyễn Minh Châu nhận xét. Tóm lại, chưa đủ bản lĩnh văn hóa thì đừng cho đi du học làm gì vội”. GS, TS, NGND Trần Văn Bính cho rằng: “Nhiều người còn có hành vi lai căng, sùng ngoại, không tin những gì mình có, mình làm ra, mà cứ lấy cái của người khác, của nước khác “dán” vào mình để tỏ vẻ “oai, oách” hơn người. Xét ở góc độ văn hóa, đấy là biểu hiện tâm lý tự ti, nhược tiểu”…

Hát then-một loại hình ca hát tín ngưỡng của đồng bào Tày-Nùng phía Bắc, được nhiều người yêu thích. Ảnh: Minh Trường.

Vậy, giải quyết mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa phương Đông và phương Tây, giữa dân tộc và thời đại như thế nào? Các ý kiến đã lý giải khá cặn kẽ. Một trong những ý kiến đó là của GS, TS Đặng Cảnh Khanh qua bài: “Học truyền thống để hiện đại hóa”. Bài viết phân tích một so sánh giữa Nhật Bản và Trung Hoa giai đoạn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Người Nhật nêu cao tinh thần truyền thống để vượt ra khỏi xã hội truyền thống, bước vào xã hội hiện đại, còn người Trung Hoa khi đó lại muốn nhờ vào kiến thức của phương Tây để hướng tới việc củng cố cơ cấu và trật tự của xã hội nội tại, duy trì và bảo vệ nó. Sự khác nhau cơ bản trong giải pháp truyền thống Trung Hoa và giải pháp truyền thống Nhật Bản đã dẫn đến những kết cục khác nhau, những xu hướng biến đổi và phát triển khác nhau của hai nước sau này.

Chúng ta học được gì qua Nhật Bản và Trung Hoa? Chúng ta không thể biến mình thành Nhật Bản, cũng không thể biến mình thành Trung Hoa, nhưng nếu không có khát vọng, không có triết lý; hoặc triết lý “an toàn” như kén bọc tằm thì khó vươn ra khỏi lũy tre làng; còn triết lý không trên cơ sở thực tiễn thì lại là hoang tưởng.

2- Nhóm bài về văn hóa quân sự- văn hóa giữ nước cũng là văn hóa sống, văn hóa thích nghi, văn hóa đứng lên của dân tộc ta

Lịch sử dân tộc ta hình thành một quy luật: Dựng nước đi đôi với giữ nước. Trong nhiều thế kỷ hình thành và phát triển dân tộc Việt Nam, phần lớn (và nổi bật nhất) là lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm. Biết bao tinh hoa, tài năng Việt đời nối đời phải dành cho kháng chiến. “Xã tắc lâm nguy, thất phu hữu trách”, huống hồ tài đức! Nhưng may mắn thay “ta vẫn là ta” sau bao biến thiên thăng trầm lịch sử. “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã/ Sơn hà thiên cổ điện kim âu”-lời thơ Trần Nhân Tông còn lay động đến bây giờ. Văn hóa quân sự-văn hóa giữ nước cũng là văn hóa sống, văn hóa thích nghi, văn hóa đứng lên của dân tộc ta.

Nhiều tác giả là tướng lĩnh, sĩ quan quân đội đã tham gia diễn đàn với trách nhiệm cao và tư duy thấu đáo mọi nhẽ, những bài viết phân tích, khẳng định truyền thống văn hóa quân sự của dân tộc có tác dụng trực tiếp trang bị nhận thức, cổ vũ động viên cán bộ, chiến sĩ hôm nay tích cực học tập, tin tưởng; không mơ hồ mất cảnh giác trước âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch. Tiêu biểu trong số đó là những bài: “Văn hóa giữ nước-nội dung cốt lõi của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam” (Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn); “Bàn thêm về văn hóa quân sự Việt Nam và lòng yêu nước của nhân dân ta” (Thiếu tướng, PGS, TS Vũ Quang Đạo); “Văn hóa quân sự Việt Nam, ôn cố để tri tân” (Nhà nghiên cứu văn hóa quân sự Dương Xuân Đống); “Phát huy giá trị của ca khúc cách mạng trong giáo dục lý tưởng cho bộ đội” (Thạc sĩ Đặng Mỹ Hạnh); Giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong quân đội hiện nay” (Thượng úy, ThS Nguyễn Bá Thanh”; “Gìn giữ, phát huy “Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ” (Thượng úy Nguyễn Chí Hòa)…

Đồng chí Nguyễn Thanh Tuấn viết: “Nghệ thuật đánh giặc độc đáo của ông cha ta không những chỉ có giá trị trong chiến tranh, mà ngay cả thời bình khi Đảng ta xác định đối tượng và đối tác đã thể hiện quan điểm vừa kiên cường, tự chủ, vừa mềm dẻo và linh hoạt. Việc xử lý các tình huống nảy sinh trong tranh chấp lãnh thổ, biển đảo hiện nay cũng cần có những phương pháp linh hoạt, hiệu quả, kiên trì kết hợp đấu tranh trên nhiều mặt. Đó chính là những nội dung mới trong nghệ thuật đấu tranh giữ nước hiện nay”.

Đồng chí Vũ Quang Đạo kể chuyện: “Năm 2012, đoàn công tác của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam có dịp đến thăm và làm việc tại Hoa Kỳ, vào Lầu Năm Góc theo lời mời của một quan chức cấp cao Bộ Quốc phòng Mỹ... Khi kết thúc buổi làm việc, thay mặt đoàn, tôi tặng vị quan chức đó vật kỷ niệm có hình mặt trống đồng, một trong những biểu tượng của nền văn hóa Việt Nam và nói: Dân tộc tôi làm ra chiếc trống đồng vốn để dùng cho lễ hội, nhưng khi có giặc ngoại xâm, nó trở thành chiếc trống trận, động viên quân sĩ, uy hiếp kẻ thù! Nhận vật kỷ niệm ấy, vị quan chức Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ nói rằng, mong sao chúng ta chỉ dùng chiếc trống này trong những lễ hội”.

Nhà nghiên cứu văn hóa quân sự Dương Xuân Đống khẳng định: Tính tổng hợp và tính linh hoạt chính là hai yếu tố văn hóa, tự mang sẵn trong mình phép biện chứng, nghĩa là luôn luôn hợp với quy luật vận động và phát triển khách quan của sự vật, và đã hình thành nên “chiến tranh nhân dân”, với phương pháp chiến đấu độc đáo, nổi tiếng là “chiến tranh du kích”, đã giúp dân tộc ta chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Ngày nay, quân đội bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, tình hình khác nhiều so với trước, nhưng những nguyên lý gốc để làm nên sức mạnh chiến đấu của quân đội không thay đổi; quy luật cơ bản của chiến tranh cũng không thay đổi. Vì vậy, quân đội cần thường xuyên được bồi tụ lòng yêu nước, ý chí chiến đấu và kỹ chiến thuật hiện đại, tinh nhuệ. Sức mạnh vô địch của quân đội ta là sức mạnh văn hóa, quân đội ta là một đội quân văn hóa, thấm đẫm văn hóa dân tộc; quân đội ta là lực lượng kết tinh của ý chí độc lập tự do, tiên phong thực hiện phương châm lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo. Đó chính là quân đội nhân dân-Bộ đội Cụ Hồ.

3- Các lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa; giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; giữ gìn nếp nhà truyền thống; tính hai mặt của văn hóa làng xã; các xu hướng phát triển của các ngành nghệ thuật cơ bản… được diễn đàn đề cập khá kỹ lưỡng.

Chúng tôi thực sự vui mừng và chân thành cảm ơn các tác giả-các cây bút nổi tiếng-đã quan tâm và tham gia đầy trách nhiệm với diễn đàn, đặc biệt những biểu hiện khá cụ thể của văn hóa. Nhiều vấn đề được nêu, nhiều kiến giải được đệ trình sẽ rất có giá trị với nhận thức chung, đặc biệt những người có trách nhiệm quản lý Nhà nước về văn hóa. Mỗi tiếng nói của các tác giả qua diễn đàn chúng tôi cảm nhận thấy rõ sự nhiệt huyết, lo lắng cho văn hóa nước nhà, đó cũng là bổn phận của mỗi công dân-trí thức với Tổ quốc.

Lo lắng là đáng quý ở tấm lòng, và quả thực hiện tại đang rất đáng lo. Nhưng qua diễn đàn cũng thấy lấp lánh niềm tin khoa học, tin vào quy luật của văn hóa, tin vào bản lĩnh của dân tộc ta trước những biến thiên của lịch sử. PGS, TS Nguyễn Văn Huy (nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học, Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát huy các giá trị di sản văn hóa) cho rằng: “Quá trình hội nhập quốc tế đối với văn hóa nước ta là quá trình diễn ra suốt trường kỳ lịch sử, chứ không phải chỉ bây giờ. Hàng ngàn năm tổ tiên chúng ta đã tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ, đến văn hóa phương Tây ở thế kỷ 15, 16. Từ giữa thế kỷ 19, Pháp đô hộ nước ta hơn 80 năm. Đó là thời kỳ văn hóa phương Tây du nhập sâu rộng. Đến nay là thời kỳ hội nhập đa phương hóa trong điều kiện thương mại mở rộng cửa, công nghệ thông tin phát triển. Những bối cảnh như vậy đã tạo điều kiện cho nhân dân ta những trải nghiệm, tiếp xúc văn hóa thế giới.

Lâu nay người ta thường băn khoăn, quá trình hội nhập như vậy có sợ mất văn hóa hay không? Tôi cho rằng không nên ngại, không việc gì phải ngại cả. Một trong những đặc điểm nổi trội của người Việt chính là tính “mở”, một dân tộc luôn luôn mở để tiếp thu văn hóa của các nước làm tăng thêm sức mạnh của mình. Chúng ta đã từng bị 1000 năm Bắc thuộc nhưng văn hóa Việt vẫn đứng vững, trong khi nhiều dân tộc khác bị đồng hóa, bị mất nước. Thời Pháp, chúng ta bị văn hóa Pháp lấn lướt, nhưng không, dân tộc chúng ta đã đứng vững, giữ bản sắc và giành độc lập.

Phải hết sức tin tưởng vào bản lĩnh Việt Nam, bản lĩnh văn hóa Việt Nam. Bản lĩnh đó thể hiện ở chỗ mỗi tầng lớp nhân dân đều tự biết chắt lọc, tiếp thu yếu tố văn hóa này hoặc từ bỏ những nét văn hóa không thích hợp với mình. Từ cộng đồng nhỏ, thôn xóm, khu phố, từ cư dân đô thị hay nông thôn, từ các tầng lớp xã hội khác nhau đều có cách tiếp thu riêng, biến văn hóa bên ngoài thành của mình, giúp cho dân tộc chúng ta trường tồn”.

Chúng tôi cũng tin như vậy, ngàn lần mong mỏi những điều ấy trở thành hiện thực!

ĐOÀN XUÂN BỘ