 |
Hồi đó, tôi đang theo học năm đầu ở trường viết văn Nguyễn Du. Hằng tuần, trong chương trình học tập, chúng tôi đều có một buổi được phụ đạo sáng tác mà thực chất là gặp gỡ, làm quen với các bậc cao danh ở mọi lĩnh vực, nghe họ nói chuyện, đối thoại với họ nhưng cái chính là được nhìn thấy họ bằng xương, bằng thịt. Một hôm, khi nghe người phụ trách giáo vụ thông báo nhà viết kịch Tào Mạt sẽ đến nói chuyện, chẳng hiểu sao tôi rất hồi hộp. Khi còn ở Hòa Bình, tôi đã đọc bộ ba vở chèo trong tập kịch có tên là Bài ca giữ nước của ông. Tôi hình dung ông phải là một người có vẻ mặt đạo mạo, uyên thâm và chắc chắn là rất khó gần. Vì thế, khi ông bước vào lớp tôi, tôi cứ ngồi ngẩn ra, suýt thì quên cả đứng dậy chào. Lời giới thiệu dài dòng của cán bộ giáo vụ bị ông cắt ngang một cách hóm hỉnh. Sau đó ông nhìn mọi người một lượt và bắt đầu buổi nói chuyện bằng những lời hỏi han rất giản dị. Ông khuyên các nhà văn trẻ phải đọc sách, đọc sách và đọc sách. Ông khuyên nhà văn cần có chủ kiến, đừng bắt chước, đừng nói theo, đừng nói dựa, đừng a dua. Rằng, trước khi khen-chê tác phẩm nào đó thì phải đọc thật kỹ nó, đọc đi đọc lại. Ông quắc mắt lên bảo: ở ta còn khối người chưa đọc cho ra hồn một cuốn sách nhưng mà phán thì như thánh con ấy. Và khi bốc lên thì ông hát các làn điệu chèo, nói về cái độc đáo của sân khấu dân gian mà chèo là tiêu biểu.
Giờ giải lao, thật tình tôi rất muốn chào riêng ông một câu, luôn thể bày tỏ lòng ngưỡng mộ về ba vở chèo của ông nhưng cái tính khí của một gã nhà quê ra phố không cho tôi đủ can đảm để làm điều đó. Trong khi mọi người vây quanh ông nói chuyện rôm rả thì tôi lầm lũi bước ra ngoài. Đúng lúc ấy tôi nghe thấy ông hỏi nhỏ ai đó: Có phải là Tạ Duy Anh kia không? Mặc dù rất hồi hộp nhưng tôi vẫn quyết định về phòng mình trong khu ký túc xá. Chợt tôi thấy có người nắm vào khuỷu tay tôi ở phía sau. Tôi dừng lại thì chính ông đã đẩy cho tôi bước tiếp: Chú bảo hôm nay nhất định phải gặp mày bằng được. Gầy quá. Nhưng mà này, đừng hoắng nhé.
Tôi không biết nói thế nào với ông trong khi ông vẫn tiếp tục cái thứ giọng thân tình rất đáng ngại đó:
- Cháu còn trẻ, trông cũng có khí phách đấy. Bước khởi đầu thế là tốt nhưng nên nhớ nghiệp văn gian nan lắm.
Tôi hiểu là ông đang nói đến truyện ngắn Bước qua lời nguyền của tôi vừa mới in trước đó. Giờ đây tôi không còn nhớ cặn kẽ ông và tôi đã nói với nhau những gì nhưng ánh mắt ông thì tôi không thể quên được. Ông có cái nhìn rất lạ, vừa như thấu suốt vừa như đang tò mò quan sát. Vài lần ông nhìn thẳng vào mắt tôi, như muốn xem thực chất tôi là ai, lại như muốn nói điều gì đó rất khó nói thành lời. Rồi bỗng ông cúi đầu nghĩ ngợi, giọng trầm xuống:
- Chú chả còn sống được bao lâu nữa đâu, đây, cháu sờ mà xem...
Ông cầm tay tôi đặt vào những vết sưng to trên tay ông được quấn băng và do bộ quân phục ông mặc khá rộng nên không mấy ai nhận ra. Tôi thật thà hỏi:
- Chú bị làm sao ạ?
- Ung thư chứ còn làm sao. Giai đoạn cuối. Nhưng mà thây kệ nó...
Rồi ông hỏi tôi về quê quán, gia đình, đời sống cùng là quan niệm về nghề văn trong khi tôi thì lại cứ bị ám ảnh bởi căn bệnh vô phương cứu chữa của ông. Có lẽ biết được điều đó nên ông át đi:
- Sống chết có số. Chú chỉ có một điều muốn nói với những thằng như mày là đừng để phí hoài thời gian vào những chuyện vô ích.
Suốt buổi nói chuyện còn lại, ông tiếp tục hút hồn chúng tôi bằng vốn kiến thức lịch sử sâu rộng, được trình bày bằng thứ ngôn ngữ vừa uyên thâm, vừa đầy chất dân gian. Tôi không chỉ nghe mà còn chứng kiến một Tào Mạt coi cái chết cận kề nhẹ như lông hồng. Phải là người đắc đạo mới có được tâm thế ấy.
Bẵng đi khá lâu tôi không gặp lại ông, vẫn chủ yếu vì thói quen ngại giao tiếp. Tôi nghe có người nói lại là ông mắng ai đó có ý mỉa mai bảo rằng tôi ăn may vớ được Bước qua lời nguyền và cũng nghe bệnh tình ông mỗi ngày thêm trầm trọng. Cho đến buổi chiều hôm ấy, đầu năm 1992 dương lịch nhưng vẫn đang là năm Tân Mùi, tôi đang ngồi trong căn phòng của mình thì ông ào vào. Vẫn bộ quân phục cũ kỹ, áo bỏ ngoài với nét mặt không có tí gì là của người sắp chết. Tôi chào ông, chưa kịp mời ngồi thì ông đã đưa tay giật một tờ lịch treo tường khổ rộng, lỉnh kỉnh bày ra bàn nào nghiên, nào bút rồi vừa khuấy mực ông vừa bảo:
- Chú e không còn được ăn Tết sau nữa Duy Anh ạ. Hình như sắp rồi. Vì thế Tết năm nay tao phải đi cho chữ vài người, trong đó có mày.
Tôi ù hết cả tai, chẳng biết nên làm gì trong khi ông bắt đầu thử bút. Và sau đó tôi chỉ còn thấy vẻ mặt ông cực kỳ nghiêm trang, trong một tư thế ngồi cũng cực kỳ nghiêm trang với những đường đưa bút mạnh mẽ, phóng khoáng, đầy cảm hứng. Mất độ hai phút là cùng ông đã chép xong bài thơ do ông tự sáng tác, bằng chữ Nho, vịnh năm Nhâm Thân. Rồi ông đọc lời dịch cho tôi nghe (lời dịch này ông chép cho giáo sư Hoàng Ngọc Hiến trong bản tặng giáo sư, cũng bài thơ trên. Sau này tôi còn thấy cũng đúng một bản như vậy ở chỗ nhà văn Nguyên Ngọc). Ông còn dịch cả dòng đề tặng bên trái: Viết nhanh tặng bạn văn Tạ Duy Anh. Phía bên dưới là tên ông, đương nhiên bằng chữ Nho. Sau đó ông moi từ trong chiếc túi vải ra một con dấu, đóng vào cuối bản viết, chờ cho khô mực rồi mới trao cho tôi. Tôi rất muốn mời ông uống một chén rượu nhưng ông lắc đầu ra hiệu là ông đang vội vì còn đi tặng thêm vài người nữa. Thu dọn đồ nghề xong là ông ào ra cửa. Đấy cũng là lần cuối cùng tôi gặp ông và điều này còn khiến tôi day dứt cho mãi về sau.
Còn hôm đó, sau khi Tào Mạt đi rồi, tôi ngồi lại một mình trong phòng, lòng vừa vui vừa buồn. Bài thơ do ông sáng tác, tư tưởng khoan hòa, được chép bởi chính chữ của ông, chữ Tào Mạt, một thứ chữ khỏe khoắn, cực kỳ mạnh mẽ, tài hoa và phóng túng, thứ chữ của nhà Nho tài tử (như cách gọi của cố giáo sư Trần Đình Hượu). Ông sống thế nào đều hiện lên ở nét chữ. Vì thế ở trạng thái xuất thần ấy, bảo ông viết cũng được, vẽ cũng được mà bảo ông đang thể hiện cuộc đời mình cũng không có gì sai.
Hà Nội, cuối năm
Nhà văn Tạ Duy Anh