QĐND - Đã lâu lắm rồi, tôi mới về quê ăn Tết. Ở thành phố, tôi vẫn được gọi là “người nhà quê” bởi thói quen cày cấy vẫn như bám chặt lấy tôi trong cả suy nghĩ và hành động. Thế nhưng, khi về đến quê, tôi lại trở thành “người thành phố”, ngỡ ngàng với những điều lạ lẫm ở làng, khác xa những ký ức của tôi về cái Tết ngày xưa…

 Tuổi thơ của tôi gắn liền với con đường làng lát gạch đỏ au. Con đường như mạnh máu đỏ xuyên qua làng và nuôi sống cơ thể làng Cổ Am (nay là xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng) quê tôi. Theo các cụ già trong làng kể lại thì vùng đất quê tôi trước kia thuộc dạng “chiêm khê, mùa thối”, đường làng quanh năm lầy lội. Thế nhưng, không hiểu tại sao con trai làng tôi lại đỗ đạt rất cao, có người còn được ghi danh trong Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội). Con gái của làng cũng rất đẹp. Chính vì các lý do ấy mà ngay từ thuở xa xưa, làng tôi đã coi trọng việc học và đặt ra cái lệ rất khác thiên hạ là nếu chàng trai nào muốn lấy vợ Cổ Am, phải nộp cho làng gạch lát đường. Chàng trai càng ở xa, càng có ít chữ thì càng phải nộp nhiều. Số gạch nhận được, làng để lát đường, lát ngõ… Con trai làng khi đỗ đạt cũng phải góp gạch làm đường. Con đường làng lát gạch đỏ au như con tôm luộc khổng lồ ấy là niềm tự hào, là nỗi nhớ của rất nhiều người xa quê. Hai bên đường là những hàng cây râm bụt xòe bông đỏ chói. Sau những hàng rào ấy là những nếp nhà lợp bằng cây cói xinh xinh…

Giờ đây, con đường lát gạch giữa làng đã được thay bằng con đường láng nhựa phẳng lỳ, nhưng tôi vẫn tiếc con đường cũ. Hai bên đường là các ngôi nhà mái bằng, mái ngói với những bức tường xây cắm mảnh thủy tinh nhọn hoắt.

Thời chúng tôi còn bé, đi trên đường làng, gặp bất cứ người lớn tuổi nào cũng đều phải khoanh tay chào. Nay về quê, đầu hai thứ tóc rồi mà gặp nhiều cháu thiếu nhi, chẳng nghe được tiếng chào, cũng thấy tủi tủi.

Lễ rước các cụ cao tuổi xóm 3 (thôn Quốc Tuấn) ra hội trường của xã Cổ Am để dự lễ mừng thọ.

Trong các âm thanh ở làng ngày trước, tôi thích nhất là âm thanh sáng 30 Tết. Từ lúc tờ mờ sáng, cả làng đã vang tiếng lợn kêu eng éc, tiếng cười nói râm ran. Sáng 30 Tết mới giết lợn, nhưng việc đụng lợn đã được bàn tính từ nhiều tháng trước. Loại lợn mà mọi người thích ăn đụng nhất là “lợn cọc”, tức là những con chậm lớn. Nhiều con tốn cám tốn bèo nuôi cả năm trời mà cũng chỉ được vài chục cân. Những con loại này có nhiều nạc, ít mỡ, chắc thịt. Thông thường khoảng từ 2 đến 8 gia đình đụng một con lợn tùy theo trọng lượng của lợn và số người trong gia đình. Con lợn đụng trước khi cắt tiết được tắm sạch sẽ. Việc chọc tiết lợn cũng khá cầu kỳ vì để hãm được tiết, đánh tiết canh không đơn giản. Con lợn làm lông xong được ngả ra nong để những người khéo tay pha thịt, lọc xương. Mọi thứ sẽ được phân ra rất đều nhau căn cứ theo số lượng người ăn đụng từ phần nạc, phần mỡ, phần xương, miếng thủ, miếng tai, miếng lưỡi đến tiết canh, lòng, dồi... Lúc đó lũ trẻ con chúng tôi thường đứng vòng quanh, vòng ngoài để xem và thích thú khi được người lớn sai vặt. Đứa nào ngoan còn được thưởng cái đuôi, hoặc cái “bong bóng lợn” dùng đá bóng trong ngày Tết…

Sau khi được chia thịt lợn, cả làng lại vang lên tiếng dao, thớt, tiếng chày cối giã giò… Khắp các ngõ ngách trong làng vất vương mùi thịt luộc, mùi chả nướng, mùi bánh chưng… Đến khi trời sáng rõ là lúc các gia đình đã sắp xong mâm cỗ Tất niên để cúng ông bà, tổ tiên. Hồi ấy, gia đình tôi cũng như nhiều gia đình khác quanh năm chỉ ăn rau, mắm cáy, cua đồng, cá tép. Đến Tết mới được ăn thịt lợn, nên mâm cỗ Tất niên là bữa ăn ngon nhất trong năm, mà món tôi thích nhất lại là thịt mỡ luộc. Có năm, vì ăn nhiều thịt mỡ quá mà đau bụng, cả Tết chẳng ăn được gì, nhưng đến Tết sang năm lại thèm thịt mỡ.

Năm nay, âm thanh trong ngày 30 Tết xưa ấy đã không còn nữa. Trong làng cũng có nhà giết lợn, nhưng họ làm hẳn một con. Phần lớn các gia đình đều đặt mua ở các lò mổ cạnh làng hoặc ở chợ. Ngày 30 Tết hầu như nhà nào cũng có lòng lợn, tiết canh, nhưng bọn trẻ con thì không được nhìn cảnh làm thịt lợn ngày Tết. Ngay cả việc gói bánh chưng cũng rất ít gia đình làm. Làng tôi giàu lên, món thịt lợn trở nên dửng dưng với mọi người. Miếng thịt mỡ lợn luộc, niềm ao ước của tôi thuở trước, nay đã vắng bóng trong mâm cỗ Tết.

Quê tôi có đặc sản nổi tiếng là cây thuốc lào, câu ca “Chiếu cói làng Bào, thuốc lào Cổ, Cát” đã khẳng định đều đó. Tương truyền rằng, ngày xưa thuốc lào của làng tôi đã được chọn là một trong những vật phẩm của xứ Đông (Hải Dương ngày nay) để tiến vua, vì thế việc chuẩn bị cho việc hút thuốc lào trong ngày Tết cũng khá cầu kỳ. Trước hết là chọn thuốc lào. Thông thường, các gia đình trong làng đều trồng thuốc lào, họ chọn những lá thuốc ở trên ngọn cây (lá mà hấp thụ được ánh nắng nhiều nhất), để già đến lúc vàng lá mới hái, đem về để riêng, thái riêng và phơi “một sương, hai nắng”, phơi trong bóng râm để khô, cho vào chum lót lá chuối khô cất để dành đến Tết. Cũng có người cầu kỳ phun thêm vào thuốc lào nước cháo gạo nếp cái hoa vàng gọi là “hồ thuốc” để thuốc lào thêm đậm đà cho người thưởng thức. Điếu cày, điếu bát hút thuốc lào ngày Tết được cọ rửa sạch sẽ từ trước ngày “ông Công, ông Táo” về trời (ngày 23 tháng Chạp). Riêng đóm để châm thuốc phải chuẩn bị trước khi Tết vài tháng. Thông thường các nhà dùng ngay thân cây thuốc lào ngâm xuống ao trong khoảng một tháng, vớt lên, chẻ nhỏ. Cũng có gia đình cầu kỳ hơn chọn những cây tre già, ngâm ở ao sâu hằng năm trời rồi đem chẻ nhỏ, phơi khô, cắt từng đoạn khoảng hơn một gang tay làm đóm châm thuốc lào dùng trong ngày Tết. Đóm tre ngâm cháy rất lâu quyện cùng với hương vị nồng cay của thuốc lào tạo cảm giác đê mê cho người thưởng thức “Thuốc lào chồng hút, vợ say. Thằng bé châm đóm lăn quay ra nhà” là vậy.

Hộp đựng thuốc lào thường làm bằng hai nửa trái bưởi non, đã bỏ ruột. Thuốc lào để trong hộp này không bị giòn, không bị mốc và luôn giữ được hương vị đặc trưng. Ngày trước, con trai, con gái làng tôi đều hút thuốc lào. Khách đến, câu nói cửa miệng của mọi người trong làng là “Mời cụ, ông (bà) xơi thuốc” hoặc “Mời cụ, ông (bà) ăn thuốc”. Ngày Tết, các nhà trong làng lúc nào cũng rền vang tiếng rít sòng sọc của thuốc lào.

Đến nay số người hút thuốc lào ở làng tôi đã giảm hẳn, thay vào đó là thuốc lá. Câu mời chào hút thuốc và âm thanh quen thuộc của chiếc điếu cày, điều bát thưa dần. Cây thuốc lào cũng không còn vị trí quan trọng nhất trong cơ cấu cây trồng ở địa phương.

Trong các phong tục tập quán của làng xưa đến nay, có lẽ chỉ còn duy trì được ngày hội mừng thọ, hay còn gọi là ngày hội “lên lão” được tổ chức vào ngày mồng 4 Tết Nguyên đán. Đây được xem là ngày hội lớn nhất của làng trong năm thể hiện truyền thống “kính lão đắc thọ”. Ngày trước, vào ngày mồng Ba Tết, tất cả những người tuổi chẵn 55 (chuẩn bị lên lão) , 60 (lên lão) , 70 (thượng thọ) , 80 (thượng thượng thọ), từ 90 tuổi trở lên (đại thọ) được mời ra miếu Cây Xanh (ở xóm 2) để làm lễ cầu cho quốc thái dân an, cầu cho dân làng khỏe mạnh, mùa màng bội thu. Trong buổi lễ này, những người cao tuổi trong làng trong làng sẽ chọn ra người đàn ông và đàn bà cao tuổi nhất gọi là tiên chỉ nam và tiên chỉ nữ để đến ngày mồng 4 Tết, các nam, nữ thanh niên trong làng rước kiệu hai người cao tuổi nhất làng đi vòng quanh làng cùng với những người cao tuổi và các con cháu của họ. Sau đó cả đoàn lại trở về miếu Cây Xanh nhận lời chúc và quà của làng. Sân miếu được trải chiếu mời các cụ ngồi. Các cụ không phân biệt địa vị, chức tước, ai tuổi cao được mời lên chiếu trên, ai tuổi thấp hơn ngồi ở chiếu dưới, được ăn bữa tiệc của làng rồi trở về từng gia đình làm cỗ. Ngày mồng 4 Tết hằng năm trở thành ngày “cả làng ăn cỗ” vì tất cả các gia đình có người lên lão, thượng thọ, thượng thượng thọ và đại thọ đều làm cỗ mời mọi người.

Nay, nghi lễ mừng thọ có sự thay đổi, cụ tiên chỉ nam và tiên chỉ nữ không ngồi kiệu mà ngồi trên xe đẩy để con cháu đưa rước. Việc tổ chức lễ cầu ngày mồng Ba Tết ở miếu Cây Xanh vẫn được tổ chức vào chiều ngày mồng Ba Tết. Đến sáng sớm ngày mồng 4 Tết, những người chuẩn bị lên lão, thượng thọ, thượng thượng thọ và đại thọ được tập trung tại 5 thôn để các thôn mừng thọ. Sau đó, các thôn rước các cụ về hội trường của xã để lãnh đạo xã chúc thọ, liên hoan văn nghệ và tặng quà. Đi đầu các đoàn rước này là các cháu thiếu nhi với tiếng trống ếch rộn ràng, sau đó là các cụ cao tuổi và người nhà của các cụ. Đường làng trong sáng ngày mồng 4 Tết tràn ngập cờ, hoa, khẩu hiệu. Tại hội trường của xã, các cụ cũng được ngồi theo thứ tự tuổi tác, hai vị tiên chỉ được ngồi ở vị trí danh dự, những người tuổi cao được ngồi ở ghế trên, người ít tuổi hơn ngồi ghế dưới, tiếp nữa là các con cháu của họ. Mít tinh, nhận quà xong, từng đoàn lại đi về tổ chức liên hoan tại các gia đình có người lên lão, thượng thọ, thượng thượng thọ và đại thọ. Có điều khá đặc biệt ở làng tôi so với các địa phương khác là hình thức tặng quà. Dân làng tôi quan niệm rằng, tuổi cao cần sự ngọt ngào, do đó quà tặng phổ biến nhất từ ngàn xưa là tặng đường, bánh kẹo. Vì vậy, ngày Tết ở các gia đình có người lên lão, thượng thọ, thượng thượng thọ và đại thọ đều có rất nhiều đường ăn. Có gia đình nhận tới hàng tạ đường là quà tặng. Sau lễ mừng thọ, số đường và bánh kẹo này lại được chia cho các con cháu trong làng.

Chiều mồng 4 Tết, đại đa số các gia đình trong làng tổ chức lễ “hóa vàng”, kết thúc Tết. Đến ngày mồng 5, mọi người trở lại công việc đồng áng và lao động thủ công…

Ăn Tết, vui Tết ở làng quê cổ kính có khá nhiều nét thú vị. Miên man trên đường làng, trong làn sương mỏng tang như hòa quyện với làn khói hương trầm thơm ngát, ký ức Tết xưa lại ập về… Thời gian trôi đi, nhiều phong tục, tập quán sẽ thay đổi, nhưng tôi thầm mong sao những nét đẹp văn hóa truyền thống của Tết làng còn lưu lại mãi về sau… 

Bài và ảnh: Đỗ Phú Thọ