 |
|
Mễ Sở (Văn Giang - Hưng Yên) lâu nay được mệnh danh là “làng tỷ phú” về trồng cây ăn quả và cây cảnh. |
QĐND Online - Vùng đất Mễ Sở thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, cách Hà Nội 25 km theo tả ngạn đê sông Hồng. Theo sử cũ, đất Hưng Yên thời các vua Hùng, bắc giáp bộ Thang Tuyền (vùng Hải Dương ngày nay); nam giáp bộ Lục Hải (một phần phía bắc tỉnh Thái Bình, Nam Định ngày nay). Thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống ách thống trị của nhà Đông Hán, đây là đất Châu Diên, quận Giao Chỉ. Đến thời Ngô Vương Quyền giành độc lập đổi là Châu Đằng. Nhà Tiền Lê gọi đây là phủ Thái Bình, đến thời Lý Cao Tông đổi là Châu Khoái, sau đổi thành Đạo Khoái. Những năm bị nhà Minh đô hộ, gọi là Khoái Châu. Từ năm 1578, Lê Cảnh Hưng đặt tên là Sơn Nam, chia thành Sơn Nam Thượng (Hưng Yên ngày nay) và Sơn Nam Hạ (vùng Nam Định ngày nay); có thời gọi là trấn Sơn Nam. Từ năm 1831, vua Minh Mệnh nhà Nguyễn tiến hành chia lại địa giới, gọi là tỉnh Hưng Yên. Cái tên Hưng Yên có từ ngày đó. Tỉnh gồm 2 phủ, 8 huyện. Phủ Khoái Châu nằm ở phía Bắc, phủ Tiên Hưng ở phía nam. Phủ Khoái Châu có 4 huyện: Đông Yên, Kim Động, Phù Cừ, Thiên Thi. Huyện Đông Yên khi thành lập gồm 10 tổng, 79 xã, thôn; trong đó Mễ Sở là tổng lớn có 8 xã. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đơn vị hành chính thay đổi, Nhà nước bỏ cấp tổng, đổi tất cả phủ thành huyện. Từ đó có tên gọi huyện Khoái Châu, bao gồm toàn bộ diện tích huyện Đông Yên cũ. Suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, vùng tổng Mễ Sở cũ tạm gọi là Liên xã Mễ Sở và thành lập xã mới: Bình Minh. Xã Mễ Sở lúc này có 5 thôn: Mễ Sở, Nhạn Tháp, Phú Thị, Phú Trạch, Hoàng Trạch và sau này thêm thôn (trước là ấp) Đồng Quê. Xã Bình Minh gồm 3 thôn: Đa Hòa, Thiết Trụ, Đằng Nha.
Như vậy, Mễ Sở là tên gọi chung quen thuộc của cả vùng đất này. Nói rộng ra, nhân dân cả huyện Khoái Châu, cả vùng Hàm Tử, Chương Dương, Đông Kết, Tây Kết, cả địa dư, địa giới Đầm Nhất Dạ rộng bát ngát, mênh mông đều có chung một truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước. Có thể gọi Mễ Sở là vùng đất của truyền thuyết và trong những truyền thuyết ấy, đẹp nhất là chuyện tình Chử Đồng Tử- Tiên Dung.
Truyền thuyết kể rằng, Hùng Vương thứ ba sinh được người con gái rất đẹp đặt tên là Tiên Dung. Đến tuổi lấy chồng, công chúa Tiên Dung chưa ưng một ai, nàng chỉ thích đi du ngoạn, thưởng thức cảnh trời mây, sông nước... Vua Hùng buồn phiền nhưng rất chiều con. Một lần rời cung, đoàn thuyền của công chúa du ngoạn xuôi sông Hồng. Đến vùng Mễ Sở, công chúa thấy bờ bãi bên sông đẹp quá, lệnh cho dừng thuyền lên bờ ngắm cảnh. Sau đó, lệnh cho quân lính quây màn trên bãi sông cho nàng tắm mát. Nước chảy, cát trôi, chẳng ngờ dưới chân nàng lộ ra một chàng trai trẻ. Đó là Chử Đồng Tử, một ngư dân đánh cá, nghèo đến mức không có tấm khố che thân. Khi thấy có đông người rời thuyền lên bãi, hoảng quá, chàng liền vùi mình xuống cát. Duyên trời định. Nhưng vua cha không thuận. Công chúa Tiên Dung đành thất hiếu với cha, cùng chồng ở lại nơi bãi sông, chung sức với nhân dân khai phá vùng đất mới, lập làng, mở chợ, đóng thuyền vượt sông, biển giao thương với cộng đồng thế giới bên ngoài.
Trong những chuyến đi giao thương ấy, Chử Đồng Tử học được phép tiên, chỉ cần úp nón lên cây gậy là hóa thành một lâu đài tráng lệ. Khi có dịch bệnh ở địa phương nào, hai vợ chồng chàng ngả nón làm thuyền vun vút tìm đến nơi dịch bệnh, dùng gậy trỏ vào người ốm, người ốm khỏi bệnh; gõ vào người chết, người chết sống lại. Nhân dân cảm kích gọi Chử Đồng Tử là Tiên Ông Đạo Chủ, đi theo rất đông. Chuyện đến tai vua, ngài cho quan quân đến đòi về cung hỏi tội. Đến đất Mễ Sở, trời sắp tối, quan quân tạm bao vây lâu đài của hai vợ chồng Tiên Dung- Chử Đồng Tử, đợi ngày mai triệu hồi về cung. Ai ngờ đêm hôm đó, trời nổi cơn giông, trong ánh sáng của sấm lòe, chớp giật, người ta thấy cả lâu đài, quân lính và hai vợ chồng Tiên Dung-Chử Đồng Tử bay lên trời. Bãi sông trở thành một đầm nước mênh mông, sau này được gọi là Đầm Nhất Dạ (Đầm một đêm).
Liên quan đến sự tích này, còn nhiều sự tích kỳ thú khác. Đấy là sự tích tên gọi Mễ Sở. Tích cũ kể rằng, vào năm 1285, quân Mông Nguyên sang xâm lược nước ta. Nghe theo lời hịch đánh giặc, cứu nước của vua Trần, thanh niên trong vùng thì thích vào tay hai chữ “sát Thát” xung phong đầu quân. Phụ nữ thì ngày đêm giã gạo, cung cấp và vận chuyển lương thảo cho quân đội “ăn no, đánh thắng”. Khi giặc tiến tới đâu, nhân dân triệt để thực hiện kế “thanh dã”, làm vườn không, nhà trống, khiến quân địch không có cái ăn và họ còn đánh úp đồn trại cùng những toán quân đi lẻ của giặc. Chính nhờ sức dân vùng này mà quân đội nhà Trần liên tiếp lập được những chiến công lớn, từ Hàm Tử đến Đông Kết, Tây Kết, Chương Dương... điển hình là việc chém được đầu tướng giặc Toa Đô. Khi đất nước ca khúc khải hoàn, vua Trần khen thưởng cho nhân dân và gọi tên vùng đất này là “Mễ Sở” (kho gạo).
Còn một truyền thuyết khác cũng không kém phần lý thú, đấy là vào năm 1420, khi còn bị giặc Minh giam lỏng ở Đông Quan, Nguyễn Trãi đã bí mật viết “Bình Ngô sách” và tìm đến Mễ Sở, dâng văn cầu Chử Đồng Tử báo mộng cho ông đi tìm chân Chúa. Được báo mộng, Nguyễn Trãi đã đánh lừa giặc, tìm đường vào đất Lam Sơn, Thanh Hóa. Ông dâng “Bình Ngô sách” lên Chủ soái Lê Lợi và trở thành một “cán bộ tham mưu giỏi” giúp Lê Lợi hoàn thành sự nghiệp đánh đuổi giặc Minh, khôi phục nền độc lập, tự do cho dân tộc.
Về Mễ Sở dâng hương lên Tiên ông đạo tổ Chử Đồng Tử và Công chúa Tiên Dung, chúng ta còn được nghe nhiều hơn về những truyền thuyết trong công cuộc dựng nước và giữ nước của nhân dân ở vùng đất “Khoái” này.
Thế Vỵ