Du khách xem dệt thổ cẩm.

Đã có nhiều người khi đến Mai Châu cũng như đến nhiều vùng núi Tây Bắc băn khoăn trước hiện trạng một tấm thổ cẩm dệt ra bao công sức giá không bằng một bó củi, một thanh cơm lam chỉ đáng giá một cốc trà đá mà muốn bán cũng chẳng dễ chút nào. Liệu mai này thổ cẩm có còn? Nghề dệt thổ cẩm đang mai một theo thời gian? Không! Trở lại Mai Châu lần này, tôi hiểu kỹ hơn: Người Thái sống không thể thiếu thổ cẩm và du khách đến thăm thú nơi đây trước hết cũng vì thổ cẩm cùng những nét văn hoá riêng.

Mai Châu có diện tích 611km2 với khoảng 49.000 người sinh sống, chủ yếu là đồng bào Thái, hiện là mô hình tiêu biểu cho phương thức làm du lịch cộng đồng (homestay). Mỗi năm Mai Châu đón hơn 3.000 lượt khách nước ngoài và 10.000 khách trong nước.

Mai Châu nổi tiếng với nghề truyền thống là dệt thổ cẩm. Đến bản Lác, bản Pom Coọng hay bất cứ bản nào ở đây, thấy tràn ngập là những tấm thổ cẩm đủ màu sắc được bày bán ở ngay dưới những ngôi nhà sàn. Ở đây hầu như nhà nào cũng có một khung cửi để dệt vải, có nhà kê cạnh cửa sổ, có nhà lại để dưới gầm sàn. Đã bao năm qua, người Thái vẫn dệt những tấm vải thổ cẩm với đủ màu sắc, hoa văn rực rỡ dùng làm khăn, túi, quần áo, chăn, đệm và những món đồ xinh xắn khác để làm hàng lưu niệm cho du khách từ những chiếc cửi truyền thống, xe sợi bằng xa quay sợi thủ công, chưa có cái gì chạy bằng mô-tơ. Đến Mai Châu tôi đã bắt gặp hình ảnh những cụ già tóc đã bạc trắng và cả những em nhỏ mới lớn ngồi dệt. Kiên nhẫn dệt từng đường vải, thêu từng hoa văn, khéo léo đẩy từng con thoi, luồn từng sợi chỉ… hình ảnh người phụ nữ Thái ngồi dệt thổ cẩm đã trở thành biểu tượng văn hoá đẹp đẽ và sống động của Mai Châu. Cũng có một dạo, chừng cách đây vài ba năm, khi đến Mai Châu, tôi thấy người dân quay quả đủ thứ với mong muốn phát triển hơn nghề dệt thổ cẩm, tăng thêm thu nhập. Người ta mua sợi tơ tằm về dệt với hoa văn thổ cẩm, may thổ cẩm thành áo hai dây, váy đầm. Nhưng du khách phương xa đến đây vẫn thích hơn cả là những tấm thổ cẩm truyền thống, truyền thống về cách dệt, truyền thống về hoa văn, chất liệu, mẫu mã. Bởi vậy, lần này quay lại, tôi thấy mừng khi chứng kiến thổ cẩm trở về nguyên sơ của nó. Những khung cửi đơn sơ đặt dưới gầm nhà sàn lại lách cách tiếng thoi đưa. Bác Hà Thị Vấn (bản Lác) cho biết: “Thổ cẩm bây giờ cũng chẳng dễ bán hơn đâu. Nhưng người Thái thì vẫn phải dệt, không dệt là thấy thiếu thiếu. Con gái mà không biết dệt thổ cẩm thì không phải con gái Thái”. Hoá ra, thổ cẩm không chỉ là một sản phẩm lao động giản đơn. Đối với người Thái, với cảm nhận của du khách, thổ cẩm là văn hoá của người Mai Châu, là hồn của người Mai Châu.

Du lịch ở Mai Châu phát triển nhất là bản Lác và bản Pom Coọng. Bản Lác hiện nay có 25 nhà làm du lịch, bản Pom Coọng có 64 nhà (nhà cửa xây dựng theo quy hoạch với các tiêu chí chung, có đánh số thứ tự từng ngôi nhà). Các ngôi nhà khác của người Thái ở hai bản này đều sẵn lòng đón khách về ngay trong ngôi nhà ở của mình với giá cả rất rẻ, chỉ 20.000 đồng/người/đêm. Và một điều khiến tôi cảm thấy ấm cúng khi trở lại lần này là không chỉ nghề dệt thổ cẩm vẫn còn giữ được nguyên vẹn mà những ngôi nhà sàn của người Mai Châu, dù có rộng hơn một chút, cao hơn một chút vẫn tuân thủ những quy định cơ bản của kiến trúc truyền thống. Tôi đã lên tới Mai Châu, đã hào hứng vào tận bếp xem người dân làm cơm lam, cơm nếp. Và tôi thú vị phát hiện ra rằng, có nhiều người khách đến đây cũng là để có được cái cảm giác thích thú khi ngồi dưới gầm nhà sàn xem dệt thổ cẩm, cùng vào bếp xem nướng cơm lam. Những đĩa xôi thổi bằng nồi nhôm mà một dạo người Mai Châu làm cho nhanh, cho tiện, giờ đã không còn bởi du khách không thích, và chính người Mai Châu cũng không thích.

Nhưng nhà sàn, xôi nếp, thổ cẩm chưa phải là tất cả những hương vị núi rừng mà Mai Châu có để tiếp đón khách phương xa. Món quà quý nhất người Mai Châu dành cho du khách là sự chân thành, mộc mạc, nguyên sơ nhưng luôn ấm áp của người dân. Đến với Mai Châu đã nhiều lần mà lần nào tôi cũng bồi hồi trước sự đón tiếp chu đáo của chủ nhà, sắp cho một chỗ nằm thoáng mát, những chiếc chiếu hoa, chăn, gối mới giặt... Bồi hồi và sung sướng khi cả buổi chiều đi xem, đi ngắm, rồi thử nghịch nỏ, thử mặc thổ cẩm, chụp ảnh, hỏi han nhưng không mua gì mà người bán hàng vẫn cứ dịu dàng, vẫn cứ tươi cười.

Đã đôi lần, trong những thoáng suy nghĩ của mình, tôi cảm thấy buồn buồn khi dừng lại hỏi giá một tấm thổ cẩm khổ lớn mà những người phụ nữ dệt nhanh nhất ở bản cũng phải mất 2 ngày mới xong (dài 1,6 mét; rộng 50cm) giá chỉ 20.000 đồng mà chỉ nhiều người xem chứ cũng ít người mua; đã đôi lần tôi tự hỏi một ống cơm lam 1.500 đồng thì người bán sẽ lãi bao nhiêu hay chỉ lấy công làm lãi. Tôi cũng như nhiều du khách đến đây, nghỉ lại một hai ngày, nếu có tiêu tiền là tiền nhà nghỉ, tiền ăn lợn rừng, cá nướng, là tiền mua củi đốt lửa, tiền thuê múa xoè, múa sạp chứ chẳng mấy khi cảm thấy tốn kém vì mua thổ cẩm, cơm lam. Thổ cẩm 20 nghìn đồng một tấm nguyên, 30 nghìn đồng một chiếc áo, chiếc quần ngố xinh xắn, 20 nghìn đồng một bộ trẻ em; cơm lam 1.000-1.500 đồng/1 thanh, chẳng đáng là bao so với đống củi đốt lửa trại một, hai trăm nghìn đồng; một đêm thuê đội múa xoè, múa sạp 300.000đồng. Mỗi lần nghĩ thế, tôi lại tự nhủ nếu không có những thổ cẩm, cơm lam đơn sơ và bình dị ấy, nếu thổ cẩm được dệt tinh vi bằng máy như ở Hà Nội; nếu cơm lam được luộc cho chín rồi nướng qua cho nhanh, cho công nghiệp… thì liệu tôi có trở lại mảnh đất này không? Mai Châu liệu có còn sức quyến rũ tôi và du khách không nếu không có cái hương vị “thơm nếp xôi”, nếu không có hình ảnh những người phụ nữ ngồi dệt thổ cẩm dưới gầm nhà sàn. Chính sự nguyên sơ của cảnh, của người, của những thổ cẩm, cơm lam ấy, những nét văn hoá giản dị và truyền thống ấy đã là những lời mời gọi thân thương và hiệu quả nhất níu chân những người khách như tôi quay lại.

Mai Châu đang giữ gìn tốt truyền thống văn hoá của mình. Nhưng Mai Châu cũng đang thay đổi không ngừng trong đời sống văn hoá mới. Đó là sự đổi mới trong cảnh vật sạch sẽ với đường làng, đường bản trải bê tông; môi trường không còn ô nhiễm. Đó là sự đổi mới trong nếp sinh hoạt tiến bộ hơn, người dân bản có nhà văn hoá để sinh hoạt chung, bà con biết sử dụng biogas để vừa làm sạch nhà cửa, vừa có nguồn nhiên liệu sử dụng trong gia đình.

Bài và ảnh: PHẠM THÀNH HUYÊN