Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Thuận Thiên (nghĩa là "theo ý trời"). Lý Thái Tổ thấy đất Hoa Lư, kinh đô cũ của nhà Đinh chật hẹp, không thể mở mang ra làm chỗ đô hội được, nên dời đô về thành Đại La (hay La Thành), là Hà Nội ngày nay...
 |
| Tượng đài Lý Thái Tổ |
Lý Công Uẩn (974-1028) là vị vua đầu tiên (1009-1028) của triều Lý.
Lý Công Uẩn là người hương Diên Uẩn, châu Cổ Pháp (Từ Sơn- Bắc Ninh). Mẹ là Phạm Thị. Khi lên ba tuổi, mẹ ông đem ông cho sư Lý Khánh Văn, trụ trì chùa Cổ Pháp làm con nuôi và được đặt tên là Lý Công Uẩn. Lý Công Uẩn đi tu từ đó. Lớn lên, với sự bảo hộ của sư Lý Vạn Hạnh (anh trai sư Lý Khánh Văn), ông vào kinh đô Hoa Lư làm quan nhà tiền Lê, thăng đến chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ. Là người khoan thứ nhân từ, có lượng đế vương. Các sử gia ghi chép không thống nhất về nguồn gốc và thân thế của vua.
Năm 1009, khi vua Lê Long Đĩnh qua đời, ông 35 tuổi. Lực lượng của Đào Cam Mộc cùng với sư Vạn Hạnh đã tôn ông lên làm vua.
Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Thuận Thiên (nghĩa là "theo ý trời"). Lý Thái Tổ thấy đất Hoa Lư, kinh đô cũ của nhà Đinh chật hẹp, không thể mở mang ra làm chỗ đô hội được, nên dời đô về thành Đại La (hay La Thành), là Hà Nội ngày nay. Tháng 7, Thuận Thiên năm thứ nhất (1010) thì khởi sự dời đô. Khi ra đến La Thành, ông lấy cớ có điềm trông thấy rồng vàng bay lên trời nên đổi tên Đại La thành Thăng Long, và cải Hoa Lư làm Trường An phủ và Cổ Pháp làm Thiên Đức phủ.
Quyết định rời bỏ hẳn một kinh đô từ vùng núi non hiểm trở ra vùng đồng bằng cho thấy bản lĩnh và tầm nhìn của một vị vua khai sáng ra triều Lý và khai sinh Thủ đô Hà Nội. Ông ở ngôi vua 19 năm. Là người của một dòng họ lớn, lâu đời, có nhiều nhân vật tiếng tăm, cộng với khiếu thông minh bẩm sinh đã được nhập thân văn hóa ở một vùng đất văn minh, văn hiến, là con của những vị cao tăng xuất sắc, Lý Công Uẩn thực sự là người ưu tú, kiệt xuất trên nhiều lĩnh vực. Ông đã cùng triều Lý viết nên những trang sử oanh liệt trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
VĂN CÔNG