QĐND - Sau ngày giải phóng, nhất là sau Đổi mới (1986) nước ta mở cửa, Việt Nam là bạn với tất cả các nước trên thế giới. Tầm mắt của các nhà văn dõi nhìn về nhiều những chân trời văn học khác nhau. Văn học ta được đón những luồng gió thi pháp trên khắp thế giới thổi tới làm phong phú đa dạng thêm rất nhiều bức tranh vốn đơn sắc. Trở thành đa sắc thì có nghĩa là muôn hình nhiều vẻ, do vậy khó nhận dạng, khó nắm bắt. Có cái cũ trở nên lỗi thời nhưng cũng có cái cũ trở thành cổ điển. Có cái mới nhập tịch được công nhận nhưng cũng có cái mới đưa vào gượng ép thành ra sống sượng...
Dấu gạch nối của hai thời kỳ trước và ngay sau năm 1975 (được viết ở những năm cuối chiến tranh, đầu giải phóng) vẫn mang đậm chất sử thi từ cảm hứng cho đến ngôn ngữ giọng điệu. Có thể kể tới các tiểu thuyết: Những tầm cao, tập 2-1976 của Hồ Phương; Sao Mai, tập 2, 3-1980, 1987 của Dũng Hà; Vùng trời, tập 3-1980 của Hữu Mai; Dòng sông phẳng lặng, tập 2, 3-1977, 1981 của Tô Nhuận Vỹ...
Cùng khuynh hướng tái hiện sự khốc liệt của chiến tranh, bắt đầu chú ý đến những mối quan hệ phức tạp giằng xé giữa con người với con người, con người với chiến tranh, có thể kể đến: Mở rừng, Đại tá không biết đùa (1976, 1989 - Lê Lựu); Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà (1977 - Nguyễn Minh Châu); Nắng đồng bằng, Vòng tròn bội bạc, Ăn mày dĩ vãng, Sông xa, Ba lần và một lần (1977, 1991, 1996, 1999 - Chu Lai); Năm 1975 họ đã sống như thế, Chim én bay (1978, 1987 - Nguyễn Trí Huân); Thung lũng thử thách, Họ cùng thời với những ai (1978, 1980 - Thái Bá Lợi); Trong cơn gió lốc, Không phải trò đùa (1979, 1988); Cửa gió (1981 - Xuân Đức); Biển gọi, Cánh đồng phía Tây (1982, 1994 - Hồ Phương); Thời gian của người (1983 - Nguyễn Khải); Sao đổi ngôi (1985 - Chu Văn); Người lính mặc thường phục (1986 - Mai Ngữ); Ông cố vấn - Hồ sơ một điệp viên (1988 - Hữu Mai); Tư Thiên (1994 - Xuân Thiều); Một ngày và một đời (1997 - Lê Văn Thảo); Nước mắt đỏ (1988 - Trần Huy Quang); Trong vùng tam giác sắt (1995 - Nam Hà); Lạc rừng (1999 - Trung Trung Đỉnh); Thời của những tiên tri giả (1999 - Nguyễn Viện)... Một trong những biểu hiện mà tiểu thuyết nói về sự căng thẳng khủng khiếp của chiến tranh là miêu tả kẻ thù như nó vốn có, nghĩa là cũng thông minh, tỉnh táo và cực kỳ tàn bạo. Trước đó kẻ thù được miêu tả có gì đấy đần độn, toàn những nét xấu, tính xấu, thì nay được đưa về đúng với cấu trúc hiện thực. Đọc Ông cố vấn... ta càng thấy rõ hơn những nhân vật cao cấp trong ngụy quân cực kỳ giảo hoạt, thâm thúy, sâu sắc... Đọc Tư Thiên ta thấy trung đoàn 7 của Thành Huế trong Tết Mậu Thân hy sinh nhiều quá vì kẻ thù quá nham hiểm... Những điều ấy càng làm nổi rõ sự thật khốc liệt của chiến tranh, càng làm nổi rõ chân dung người lính cách mạng rạng ngời hơn với những phẩm chất phi thường: Thông minh, dũng cảm... và đặc biệt là một lòng yêu nước vô bờ. Nhất là làm nổi bật cái giá bằng máu phải trả cho chiến thắng giành độc lập...
Với cảm hứng bi kịch nhân văn, Chim én bay đã dựng lại một hình tượng nhân vật Quy luôn có cái nhìn về hai phía quá khứ và hiện tại. Có thể coi nhân vật như cái bản lề khép mở hai chiều thời gian: Quá khứ là cảnh trừng trị kẻ ác ôn mà có khi Quy là người trực tiếp nhận nhiệm vụ. Hiện tại là những cảnh trả thù rất tầm thường như cảnh bà con rượt đuổi tên xã trưởng có nợ máu với dân, cảnh đám trẻ con truy bức một đứa trẻ khác vì bố nó ngày trước là ác ôn... Tiểu thuyết vươn tới một tầm ý nghĩa nhân văn mới mẻ, sâu sắc và mang tính phổ quát: Phải trừng phạt cái ác để cứu lấy con người, nhưng con người không thể sống trong cái vòng luẩn quẩn của sự thù hận mà phải biết rũ bỏ và hóa giải hận thù, cùng nhau “sống để yêu thương”... Cùng với Chim én bay, Nước mắt đỏ đi sâu lý giải, phân tích tâm trạng giằng xé đau đớn của nhân vật người phụ nữ (Thu) phải gánh chịu bao khổ đau do chiến tranh trên đôi vai mỏng mảnh. Những người phụ nữ ấy vừa là anh hùng cũng vừa là nạn nhân. Anh hùng thì ai cũng thấy, nhưng ở phương diện nạn nhân thì chỉ đọc tiểu thuyết người ta mới thấm thía hơn về sự mất mát thiệt thòi mà ở thời nào, nhất là trong thời chiến, người phụ nữ cũng phải hứng lấy nhiều nhất.
Xét về đổi mới nghệ thuật trần thuật thì Vòng sóng đến vô cùng (1987) của Nguyễn Khải mang tính tiên phong trong việc sử dụng hình thức đối thoại khá linh hoạt, tạo cho tác phẩm sự đa dạng về giọng. Cảm hứng sáng tạo của nhà văn về cơ bản là cảm hứng ca ngợi người anh hùng mà tiêu biểu là hình tượng người lính Mười Sanh, tuy là một nhưng là một vòng sóng có sức lan tỏa đến vô cùng. Mười Sanh là anh hùng của hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, một tính cách Nam Bộ điển hình, là nhân chứng sống của lịch sử. Hết chiến tranh, Mười Sanh lại tiếp tục cuộc đấu tranh vì lẽ phải trong sự nghiệp dựng xây lại cuộc sống.
Chưa bao giờ có hiện tượng một tác phẩm văn học hiện đại chia đôi hai thế giới độc giả: Những người ủng hộ hết lòng và những người chê hết mức, cho đến khi xuất hiện Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh.
Xét theo đặc trưng thể loại tác phẩm này không phải là tiểu thuyết sử thi, nó chỉ là một tiểu thuyết viết về chiến tranh. Có nhiều căn cứ để đánh giá Bảo Ninh chịu ảnh hưởng từ lối viết của Erich Maria Remarque, nhà văn Đức gốc Do Thái trong Phía Tây không có gì lạ. Chúng ta thừa nhận tài năng của tác giả thể hiện ở phương diện đổi mới cách viết, kỹ thuật viết. Về mặt này, tác phẩm xứng đáng được Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1991. Ngoài sự cách tân ở hình thức biểu hiện, tiểu thuyết hấp dẫn ở chỗ đưa ra một cái nhìn mới về chiến tranh. Trước đó, về cơ bản cái nhìn của văn học Việt Nam về chiến tranh là cái nhìn một chiều, cái nhìn sử thi. Đến Nỗi buồn chiến tranh thì xuất hiện cái nhìn ngược lại, cái nhìn phản sử thi: “...chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người”. Mà trong quy luật tiếp nhận, có một cái nhìn mới lạ bao giờ cũng gây sự chú ý, người quan tâm đến vấn đề đổi mới cách viết thì ủng hộ, người hay chú ý đến nội dung viết về cái gì thì phản đối. Cho nên tác phẩm tạo ra những dư luận trái chiều, phân hóa trong giới bạn đọc là điều dễ hiểu. Với cảm hứng bi kịch tàn nhẫn, nhà văn nhìn về chiến tranh chỉ thấy sự tàn bạo, chỉ thấy những “nỗi buồn”, chết chóc, bi quan, không nhìn thấy đó là cuộc chiến tranh gì, với mục đích gì. Đó là hạn chế rõ nhất về tính tư tưởng của tác phẩm.
Rõ ràng tiểu thuyết về đề tài chiến tranh đã gánh vác trọng trách sự đổi mới tiên phong của cả một nền văn học cách mạng. Từ góc nhìn thể loại sẽ cho thấy đây là một thể tài năng động, linh hoạt, như một cỗ xe tăng xung kích gạt bỏ những công sự trì trệ bảo thủ, mở đường cho các thể tài khác chiếm lĩnh, khai phá những miền đất văn học mới.
PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ
Kỳ 1: Những tiền đề, bối cảnh sử thi
Kỳ 2: Cảm hứng sử thi
Kỳ 4: Những hướng đi mới