QĐND - LTS: Tiểu thuyết sử thi của chúng ta từ 1945 đến nay xứng đáng là một dòng chảy cường tráng, lực lưỡng, góp phần làm phì nhiêu thêm cho cánh đồng văn học Việt Nam hiện đại. Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết của nhà văn, PGS, TS Nguyễn Thanh Tú về đề tài này. Bài viết là một cách khẳng định những giá trị văn hóa vĩnh cửu của đề tài chiến tranh cách mạng; khẳng định ý nghĩa nhân văn cao cả, thiêng liêng; khẳng định tinh thần Việt Nam “Không có gì quý hơn độc lập tự do” trong các cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc ta đánh đuổi kẻ thù xâm lược.
Do khuôn khổ tờ báo có hạn, chúng tôi chia bài viết thành nhiều kỳ, đăng trong trang Văn học thứ sáu hằng tuần. Xin trân trọng cảm ơn tác giả và bạn đọc.
Kỳ 1: Những tiền đề, bối cảnh sử thi
Nhìn vào tiến trình vận động của tiểu thuyết sử thi Việt Nam từ 1945 đến nay dễ thấy có một quy luật: Sự phát triển của thể loại này luôn gắn liền với những biến động lịch sử của dân tộc và thời đại. Văn học là tấm gương phản ánh lịch sử nhưng đúng như tên gọi, tiểu thuyết sử thi là thể loại nhạy cảm hơn cả với bước đi của lịch sử, với những sự kiện lịch sử.
Sau năm 1945, nền văn học sử thi hòa vào dòng chảy cách mạng phục vụ cho sự nghiệp chung: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là: Phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công-nông-binh” (Hồ Chủ tịch). Nhà văn Nguyễn Đình Thi nói thay tấm lòng của văn nghệ sĩ sau cuộc “nhận đường” vĩ đại: “Kẻ cũ, người mới, kẻ hướng này, người phương khác, chúng ta cùng quây tất cả quanh ngọn cờ dân tộc, viết, vẽ, làm nhạc, kháng chiến trên mặt trận văn nghệ, những mong mỏi mỗi sáng tác là một viên đạn bắn vào đầu kẻ thù” ("Các nhà văn bàn về đề tài chiến tranh"-Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 4, 2001, tr 114-117). Nhà văn Nguyễn Minh Châu nói rất đúng về nhiệm vụ của các nhà văn thời đó: “phải chiến đấu cho quyền sống của cả dân tộc”. Tiểu thuyết là một thể loại cường tráng rất thích hợp cho việc phản ánh, ngợi ca, cổ vũ, khẳng định cuộc sống chiến đấu và xây dựng chủ nghĩa xã hội đang bừng bừng khí thế. Nguyễn Đình Thi trong "Công việc của người viết tiểu thuyết" kêu gọi các nhà văn cầm lấy thứ vũ khí là tiểu thuyết để “chiến đấu”: “Tiểu thuyết, đó là một trong những sáng tạo kỳ diệu của con người, đó là một đồ dùng, một vũ khí của con người để tìm hiểu, chinh phục dần thế giới và để tìm hiểu nhau và sống với nhau”. Ông còn nhấn mạnh thêm: “Tiểu thuyết ngày nay không những là một công cụ đắc lực để tìm hiểu và miêu tả sự thật của đời sống con người, mà còn phải chiến đấu để làm thay đổi được xã hội...”.
Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 1948 với bản báo cáo "Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam" đã mở ra một triển vọng, một hướng đi cho nền văn học mới. Đó cũng chính là tiền đề lý luận để tiểu thuyết sử thi Việt Nam hình thành và phát triển. Chúng ta đã có những thành quả đầu tiên với Vùng mỏ (Võ Huy Tâm), Xung kích (Nguyễn Đình Thi), Con trâu (Nguyễn Văn Bổng). Các tác phẩm này đều giành được Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam các năm 1951-1952 và 1954-1955. Được viết với cảm hứng ngợi ca hồn nhiên nên tiểu thuyết sử thi giai đoạn này mới chỉ dừng lại miêu tả những cái bên ngoài của sự kiện, của nhân vật, nhất là hình tượng nhân vật tập thể chứ chưa đi sâu vào lý giải bản chất bên trong sự kiện hay phân tích tính cách nhân vật. Dưới cái nhìn của ngày hôm nay chúng ta dễ thấy các tác giả thời đó ý thức rất cao về nhiệm vụ chính trị, về tinh thần dân tộc. Thành công của các tác phẩm này là miêu tả khá sinh động sức mạnh của quần chúng tập thể, cao hơn là sức mạnh của toàn dân tộc đang cùng một lòng đứng lên đánh giặc Pháp theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, đã góp phần tích cực trong việc phản ánh cổ vũ động viên cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện gian khổ và cực kỳ anh dũng của quân và dân ta trong những năm đầu đánh Pháp. Có thể nói, sự hồn nhiên trong tư duy (cả về nội dung và hình thức) là một đặc điểm riêng của tiểu thuyết sử thi được viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (trước 1954).
Đỉnh cao của tiểu thuyết sử thi viết về cuộc kháng chiến chống Pháp là Đất nước đứng lên (1956) của Nguyên Ngọc. Tác phẩm lấy bối cảnh cuộc kháng chiến của dân tộc Ba Na (Tây Nguyên) đánh Pháp kiên cường bất khuất nhưng người đọc nhận thấy đó là cả một cuộc đấu tranh vĩ đại được thu nhỏ của cả dân tộc Việt Nam. Thành công của tác phẩm ngoài tính điển hình phổ quát còn phải kể đến một tư duy tiểu thuyết khá già dặn ở chỗ, nhà văn đã xây dựng một tính cách anh hùng của nhân vật Núp với quá trình phát triển biện chứng lô gích, được viết bởi một bút pháp sử thi vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất thơ. Đất nước đứng lên xứng đáng là một trong những đỉnh cao không chỉ của văn học viết về kháng chiến chống Pháp mà còn là của cả dòng tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945-1975.
Sự xuất hiện của Đất nước đứng lên và âm hưởng vang dội của tiếng súng Đồng khởi đầu những năm 60 của thế kỷ XX là những “cú hích” để tiểu thuyết sử thi phát triển mạnh mẽ. Hàng loạt tiểu thuyết ra đời: Một chuyện chép ở bệnh viện (1959), Trước giờ nổ súng (1960), Sống mãi với Thủ đô (1961), Cao điểm cuối cùng (1961), Những người cùng làng (1961), Làng tề (1962), Một chặng đường (1962), Trên mảnh đất này (1962), Phá vây (1963), Đất lửa (1963)... Trong 3 năm 1960, 1961, 1962 có hơn 20 cuốn tiểu thuyết xuất bản, mỗi cuốn phát hành trên dưới một vạn bản. Nhưng có lẽ nguyên nhân quan trọng hơn cả là vị thế dân tộc lúc này đang ở tầm cao của vũ đài chính trị thế giới. Sau khi chúng ta thắng Pháp với trận Điện Biên Phủ “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, cả thế giới nhìn chúng ta với con mắt cảm phục, ngưỡng mộ.
Đế quốc Mỹ nhảy vào xâm lược miền Nam. Cả nước ta lại đoàn kết thành một khối “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố Hữu). Chưa bao giờ “không khí sử thi” lại bừng bừng mạnh mẽ như lúc bấy giờ. Những tiểu thuyết sử thi nguyên khối, tinh chất, không pha tạp ra đời như là một sự tất yếu: Vào lửa (1966), Hòn Đất (1966), Cửa sông (1967), Gia đình má Bảy (1968), Ở xã Trung Nghĩa (1969), Rừng U Minh (1970), Đường trong mây (1970), Vùng trời (1971), Đất Quảng (1971), Dấu chân người lính (1972), Thôn ven đường (1973), Mẫn và tôi (1972)... Nhà nghiên cứu Niculin (người Nga) nhận xét về cách xây dựng nhân vật của Nguyễn Minh Châu trong truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng là “đã bao bọc nhân vật trong bầu không khí vô trùng”. Nhưng thực ra nhận xét ấy đúng với cả các nhân vật tiểu thuyết sử thi tiêu biểu của thời kỳ này: Chị Sứ (Hòn Đất), Lữ (Dấu chân người lính), Mẫn (Mẫn và tôi), Hảo (Vùng trời)...
Nếu ví tiểu thuyết sử thi như một dòng chảy thì tiểu thuyết đầu những năm 1945-1975 là nơi thượng nguồn, nước nguồn trong vắt, nguyên thủy. Từ nơi này mà tạo thành dòng, rồi sau này phân nhánh thành các chi lưu thế sự, đời tư… Tiểu thuyết sử thi không chỉ mang sứ mệnh phản ánh, ngợi ca cuộc chiến tranh cách mạng vĩ đại mà còn có ý nghĩa khởi nguồn, khơi nguồn cho cả gia đình tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ
----------------
Kỳ 2: Cảm hứng sử thi