QĐND - Cách nay gần 70 năm, Nam Cao-nhà văn hiện thực xuất sắc đã đưa ra tuyên ngôn được coi là quan niệm chung của các nhà văn chân chính: “Khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”. Tức là nhà văn khi cầm bút phải viết ra những cái gì thực sự mới mẻ, cần thiết, bổ ích thiết thực cho bạn đọc. Ngày trước đã thế, ngày nay càng phải thế vì văn hóa đọc đang thất thế trước sự lấn át mạnh mẽ của văn hóa nghe nhìn. Hơn nữa, bạn đọc hôm nay rất thông minh, đã biết, thậm chí làm chủ rất nhiều lượng thông tin, do vậy những gì viết ra càng phải chọn lọc.

Nhưng có nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học lại đang lạm dụng vốn hiểu biết, nhất là ngoại ngữ để đưa lên trang viết những kiến thức hoặc là quá cũ hoặc là khó hiểu và nhất là không cần thiết. Dĩ nhiên biết nhiều kiến thức là hay, làm chủ ngoại ngữ là tốt. Nhưng hãy để những điều ấy nhuyễn vào trang viết thì hay hơn.

Mấy ngày gần đây, một nhà nghiên cứu trẻ có bài viết “Lịch sử như là hư cấu-quan điểm sáng tạo mới về đề tài lịch sử” in trên tạp chí văn học có tiếng rồi được đăng lại trên một vài trang web văn chương. Bài viết mang tính tổng thuật để chứng minh cho quan điểm mới, như tên bài là “Lịch sử như là hư cấu…”. Thực ra quan điểm này cũng cần phải xem xét lại, bởi hư cấu lịch sử, nếu không làm chủ được tri thức sẽ rất dễ gần với xuyên tạc lịch sử. Vấn đề này cần đến một công trình nghiêm túc để tranh luận, do vậy chúng tôi không bàn đến. Cái bàn ở đây là tác giả trích dẫn quá nhiều, tất nhiên là “tổng thuật” thì phải có trích, nhưng liệu có cần nhiều đến thế chăng?

Bài viết dài 5.640 chữ, chưa kể tài liệu tham khảo, nhưng tác giả trích ra:

Các tác giả trong nước, trích lời của các tác giả (cả dẫn trực tiếp lẫn gián tiếp): Lê Ngọc Trà, Trương Đăng Dung, Nguyễn Đăng Điệp, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải, Hà Văn Tấn. Liệt kê tên tác phẩm, tác giả: Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Mộng Giác, Võ Thị Hảo, Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Huy Thiệp…và: Quả dưa đỏ (1925) của Nguyễn Trọng Thuật, Nặng gánh cang thường (1930) của Hồ Biểu Chánh, Vì nước hoa rơi (1925), Lê Triều Lý Thị (1931), Một đôi hiệp khách (1929), Việt Nam Lê Thái Tổ (1929) của Nguyễn Chánh Sắt, Tiếng sấm đêm đông (1928), Vua bà Triệu ẩu (1929) của Nguyễn Tử Siêu… và nhấn mạnh “nhiều tác phẩm mà tiêu biểu là Hội thề của Nguyễn Quang Thân, Vàng lửa, Phẩm tiết, Kiếm sắc của Nguyễn Huy Thiệp”. Như vậy, có tác giả, tác phẩm phải nhắc đi nhắc lại hai ba lần.

Các tác giả nước ngoài, người được nhắc tên, người được trích lời, gồm: T.Lessing, Lenin, Tolstoi, Balzac, A.Dumas, Lukacs, H.Taine, Ferdinand de Saussure, Derrida, Wittgenstein, M.Heidegger đến Gadamer, Lyotard, Karl Popper, E.Lorentz, Thomas Kuhn, P.H.Simon, Nichols, O.Spengler…

Và dĩ nhiên các trường phái lý thuyết được la liệt hiện lên: Như lý thuyết hỗn độn (chaos theory), lý thuyết tai biến (catastrophe theory), lý thuyết tương đối (relative theory), định lý bất toàn (icompleteness theorem), lý thuyết phức hợp (complexity theory), và các khái niệm nước ngoài: “Tri thức thiết thực về mặt xã hội” (socially robust knowledge), “tri thức được bối cảnh hóa” (contextualized)… Nó nhiều đến nỗi người đọc hoa mắt khi tác giả chua bằng tiếng Việt, nếu không biết tiếng Tây thì rất khó xác định đấy là nội dung hay tên tác giả. Ví dụ “Trong Tư duy lại khoa học (H.Nowotny, P.Scott, M.Gibbon)”, thì các từ trong ngoặc đơn đích là không phải nghĩa tiếng Tây mà có lẽ là tên người…

Nhà nghiên cứu lão thành lắc đầu: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”

Các sinh viên than thở: “Bao la, hùng vĩ quá!”

Bạn đọc phổ thông thảng thốt: “Xin kính nhi viễn chi!”

Tiêu chuẩn hàng đầu của bài báo khoa học là tính mới. Cái mới trong bài báo trên phải chăng là sự tranh luận hay đồng tình qua chứng minh thực tế tác phẩm, thì liệu có hấp dẫn, bổ ích hơn không?

THANH NGUYÊN