QĐND - Làng Rận nằm bên con suối Bản Thi là nơi tịch mịch hẻo lánh. Tương truyền mấy trăm năm về trước, có vị tiên hiền họ Chu vốn dòng Nho gia đến đất này lập làng Rận. Tục gọi là làng Chu Rận. Trải mấy trăm năm vật đổi sao dời, làng Chu Rận vẫn không thoát khỏi cái viễn ảnh của vị tiên hiền thuở nọ, nghĩa là vẫn u uẩn, trầm mặc.

Làng Chu Rận dù trầm mặc, hẻo lánh nhưng có một cái sự hay, đó là sự an bình. Trải bao thiên tai, mất mùa, dịch bệnh... làng vẫn yên ổn. Còn nhớ cái đận đói năm ấy, có nhiều người quanh vùng tìm đường đến được làng Rận mà thoát chết. Người ta nói làng Rận thoát được nhiều kiếp nạn là bởi vị tiên hiền họ Chu đã để lại cho dân nhiều báu vật, trong cái kho thóc “không hề biết cạn”.

Giờ thì Chu Lang đã quản lý cái kho thóc “không hề biết cạn” ấy. Chu Lang là người có uy tín trong làng. Hằng năm, cứ đến lễ mừng cơm mới, người làng đến đổi thóc mới lấy thóc cũ. Mỗi nhà chỉ đổi có hai chục hộc. Hai chục hộc đó xay ra được mười lăm hộc gạo, một hộc cám. Tất cả số gạo, cám đó chỉ để dùng ăn trong bảy ngày lễ mừng cơm mới. Vào dịp đó làng Rận mới bớt đi cái vẻ u uẩn, trầm mặc. Người ta kéo đến chúc tụng lẫn nhau, ăn các loại bánh làm từ bột gạo tẻ, ăn cơm tẻ, cháo mồi nấu từ cám gạo. Những ngày diễn ra lễ mừng cơm mới, Chu Lang là người tất bật nhất làng, những việc đảo thóc, kiểm nghiệm chất lượng thóc, phân chia thóc cũ… Chu làm luôn tay, không hề trễ nải.

Mươi năm gần đây, kho thóc “không hề biết cạn” của làng Rận đã có dăm lần phải xuất thóc cứu đói. Kho thóc thì nhỏ, người làng thì đông, khẩu phần thóc cứu trợ lần sau giảm hơn lần trước đang là điều khiến Chu Lang đau đầu. Đồng đất làng Rận hằng năm đều được chất màu từ dòng Bản Thi bồi đắp, năng suất lúa không hề kém. Nhưng người làng mỗi năm càng thêm đông, nhu cầu về đất canh tác càng kịch liệt. Cái ăn còn chưa dư dật thì việc bảo người làng đóng thêm thóc vào kho dự trữ là điều khó. Nhưng điều đó không làm Chu Lang khó nghĩ bằng việc người làng giờ lại có nhiều mánh lới, ăn bớt phần thóc dự trữ phải đóng vào lễ mừng cơm mới. Biểu hiện tuy lặt vặt như đong hộc thóc lẹm, phơi thóc ướt để lấy dôi, hoặc khất lờ việc nộp thóc vào kho. Những biểu hiện này tuy nhỏ nhưng đã cho thấy bản chất của người dân làng Chu Rận đã đổi khác, không còn vẹn nguyên như xưa.

Lễ mừng cơm mới năm nay ở làng Rận càng khiến cho Chu Lang suy nghĩ nhiều. Sau mấy đêm trằn trọc mung lung, Chu Lang quyết ý bàn trước với vợ. Dường như chỉ chờ Chu Lang nói, bà vợ ào ào nói ra những suy nghĩ: “Bảo dân đóng góp xây rộng kho thóc ra chẳng ích gì đâu. Mấy hôm trước người ta còn đồn việc nhà mình đào được kho báu của cụ tổ”. Chu Lang kinh ngạc: “Thóc dân phơi chưa khô tôi phải đổ ra phơi lại. Chứ biết đâu kho báu mà đào?”. Vợ Chu Lang cãi: “Nhà bác Phùng nói dưới kho thóc có kho báu, có tấm họa đồ trong gia phả làm chứng”. Chu Lang nói: “Vậy tôi phải gặp bác Phùng”.

Nhà Phùng ở ngay giữa làng, có tiệm tạp hóa, người ra kẻ vào tấp nập. Phùng hơn Chu Lang vài tuổi nhưng hai người học chung lớp đồng ấu. Đến tráng niên, Chu Lang ở lại quê nhà, Phùng nuôi chí làm giàu thoát ly làng từ đó. Phùng bặt tăm biền biệt, đến mãi gần đây mới trở về làng bỏ tí vốn ra xây cái nhà gạch ngay sát bên căn nhà sàn bằng gỗ của cha mẹ, lại mở nghề buôn bán tạp hóa. Là người đã từng đi đây đó nên Phùng được nhiều người trẻ trong làng ngưỡng mộ. Thi thoảng Phùng cũng cho một vài đứa thanh niên cùng đi phụ việc áp tải hàng về làng. Sau mỗi lần đi như vậy, đám thanh niên càng thêm ngưỡng mộ Phùng. Chúng nhận thấy rằng, quê mình thật lạc hậu, buồn chán, không như ở dưới kia chốn đô hội đông người.

Phùng sống giữa làng mà chẳng giống người làng Rận. Phùng giàu có và đắc ý. Từ lâu Phùng đã nóng mắt cái kho thóc “không bao giờ biết cạn” ở ngay trước sân nhà Chu Lang. Phùng hay bình phẩm đó là việc dỗi hơi rồi cười cợt lễ mừng cơm mới. Phùng chê đó là thứ “xuôi chẳng ra xuôi, thượng chẳng ra thượng”. Điều Phùng nói, có phần đúng, bởi làng Rận vốn là một cái làng lẻ loi của người xuôi lên lập làng giữa trập trùng núi rừng của người thượng. Cái từ Bãi Rận, nghĩa là nhiều chấy, rận đến mức chính người miền núi cũng không sống được mà phải bỏ đi. Sau được các vị tiên hiền trị thủy, khai hoang mà vóc dáng của một ngôi làng miền xuôi với lũy tre bao bọc. Người làng muôn đời sống vì tình làng nghĩa xóm, xiết bao chân tình.

Thảng hoặc cũng có những chú lái trâu miền thượng ghé qua, thảy đều kinh ngạc mảnh đất cỏn con bé như cái chấy cái rận ấy mà lại có thể nuôi sống chừng đó con người. Phần là vì người ta biết kỹ thuật trồng lúa nước và cách chọn giống lúa của người làng Rận, xa hơn là tài cải tạo đất và tầm nhìn của vị tiên hiền họ Chu.  Những năm đầu dựng trại lập làng, người dân thiếu đói liên miên, việc trị thủy dòng suối Bản Thi vẫn chưa xong, Chu tiên hiền đã nghĩ ra việc làm kho thóc để người khỏe làm bù cho người yếu, nhà đông sức giúp nhà neo đơn. Ông lại lấy những hạt thóc nặng, tròn dính nơi ván sàn nhà kho làm hạt giống cho mùa vụ sau. Dòng suối Bản Thi được điều hòa không mang về những con lũ dữ phá hoại mùa màng. Mấy chục đời như thế, mấy trăm năm như thế, người làng Chu Rận đã biến mảnh đất nghèo này thành những kho vàng, kho bạc…Chuyện ấy, người làng Rận ai cũng biết.

Phùng không thể chịu được cái cuộc sống đơn điệu, mỗi năm chờ hai đợt lễ mừng cơm mới. Phùng muốn thoát ra khỏi cuộc sống u uẩn sau lũy tre làng. Và tới nay Phùng đã thành công. Với những thành công ấy, Phùng có thể cười ngạo với dân làng, với tiên tổ. Nhưng vẫn còn đó cái kho thóc “không hề biết cạn” thì nụ cười của Phùng chưa thật sảng khoái. Mấy năm ăn nên làm ra, Phùng cũng biết giúp đỡ người khác những dịp giáp hạt, khô đồng. Và bao giờ cũng vậy, Phùng nói: Thiếu thì đến nhà tôi mà vay việc gì phải vay thóc làng. Vay thóc nhà Phùng ít người biết, vay thóc của làng thì phải đánh dấu lên vách nhà kho đó là cái lệ rồi. Vì thế mà vào lễ mừng cơm mới, người làng cũng dấm dúi đến nhà Phùng trả nợ. Phùng bận lắm.

Chu Lang tìm đến nhà Phùng. Phùng tủm tỉm đưa ra cuốn gia phả đã ngả màu vàng úa. Trên trang gia phả cuối cùng có một bức họa đồ. Thực không khó để nhận ra đó là kho thóc “không hề biết cạn”. Tại một điểm được khuyên có hai chữ “cẩn lập”. Giá như không có cái hình khuyên đó, có lẽ chẳng bao giờ Phùng liên tưởng đến chuyện kho báu của làng. Hai người Phùng, Chu trao đổi và nhanh chóng thống nhất. Chu Lang dóng trống gọi dân làng, vắn tắt kể qua sự việc rồi cùng tất cả dân làng đi đến kho thóc “không hề biết cạn”. Hai thanh niên theo bức họa đồ mà lật đúng tấm ván làm lộ ra nền đất. Những tiếng cuốc, tiếng mai phầm phập cắm vào đất. Dân làng nín thở dõi mắt trông qua khe cửa hẹp lối vào kho thóc.

Sau chừng một thời gian đủ sôi nồi cơm gạo mới, hai thanh niên khệ nện khiêng ra một chiếc rương có khuyên và đai sắt. Đám đông dân làng xôn xao, tiếng nói cố kìm nhưng cứ buột ra: “Kho báu, kho báu có thật rồi, làng ơi”. Hai thanh niên cẩn trọng dùng mũi chiếc mai bật ổ khóa đã hoen rỉ. Trong ánh nắng chiều ngả muộn, sương núi đã rơi, màn đêm thâm u bao trùm lên những gương mặt kinh ngạc, thèm muốn, khát khao… Hai người thanh niên giơ cao những món đồ trong chiếc rương. Đó là một cuốn vở bìa bọc da, một chiếc ống quyển. Hai người thanh niên lại dùng sức lật úp chiếc rương rồi giơ cao lên cho mọi người xem. Không còn thứ gì khác.

Cụ giáo làng run run bước lên thềm kho thóc. Hai tay kính cẩn đỡ cuốn tập ngang mày, cụ cúi người lạy bốn phương, tám hướng rồi chậm dãi mở từng trang viết. Đó là những trang nhật ký của Chu tiên hiền. Đoạn sau là do người con trai trưởng viết tiếp về cuộc đời của cha. Chu tiên hiền vốn là một vị quan, vì chán ghét cảnh thù hận, mưu mô xảo trá trong triều, cụ đã treo ấn từ quan. Hành động đó có thể mang họa sát tộc nên cụ đã lặng lẽ dời dòng họ, gia nhân, những thuộc hạ thân tín của mình vào nơi rừng thiêng núi thẳm này trốn tránh. Đoạn cuối, được người con trai cả chép thêm về chuyện những ngày đầu lập trại ở bãi Rận như mọi người đã biết. Trước khi qua đời, con trai cả đã chôn tất cả những tài liệu đó trong kho thóc “không hề biết cạn”, nơi thiêng liêng nhất làng.

Đêm đã buông, nhưng người người còn chưa muốn về, họ đốt lên những bó đuốc sáng rực soi rõ năm căn nhà. Trong ánh lửa bập bùng, cụ giáo lại kính cẩn làm lễ rồi mở ống quyển. Đó là một bức đại tự viết trên lụa điều. Màu lụa đỏ đã phai, nhưng dấu son còn tỏ. Đó là bút tích của Chu tiên hiền đề hai chữ “Thành thật”.

Người làng Rận cúi đầu, không ai bảo ai, họ tự nghĩ về mình, đã bao lâu rồi họ sống thiếu thành thật với cộng đồng?

Truyện ngắn của ĐÔNG LÊ