"Tỏ tình"-tác phẩm bằng sành màu của tác giả Đặng Toàn Hưng lấy cảm hứng từ câu hát giao duyên quan họ.

Khi tôi viết những dòng này, không khí chiến thắng lịch sử của bóng đá Việt Nam vẫn còn dư vị ngọt ngào. Niềm vui lớn đó đến không phải do may mắn mà là một tất yếu lịch sử, là điều sẽ phải đến. Có được tất yếu đó một phần nhờ chúng ta biết “Mình là ai” để chọn đấu pháp hợp lý. Cổ nhân nói: “Biết mình biết người, trăm trận trăm thắng”. Điều này đúng với cả những cuộc thi đấu mà đối thủ không lộ diện, “bất đối kháng”… Tôi đang muốn nói đến câu chuyện của các họa sĩ, nhà điêu khắc Việt Nam đang đấu tranh với cái tôi để đi tìm bản sắc dân tộc trong tranh và tượng.

Năm 2008 là năm hoạt động sôi nổi của Hội Mỹ thuật Việt Nam, riêng về triển lãm đã có 57 cuộc, trong đó có 9 cuộc là triển lãm khu vực; tổ chức được 19 trại sáng tác với 259 lượt tác giả tham dự và 5 chuyến đi sáng tác thực tế; tặng 77 giải thưởng trong các triển lãm khu vực; cùng nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm, giao lưu với các nghệ sĩ quốc tế… Hoạt động sôi nổi và cũng có nhiều tác phẩm, song Mỹ thuật Việt Nam vẫn chưa tìm thấy “cánh chim đầu đàn” và phong cách “chủ lưu” xứng tầm với một nền mỹ thuật giàu truyền thống, giàu bản sắc của nước nhà.

Tôi chia sẻ với họa sĩ Đức Hòa về vấn đề “bản sắc dân tộc”, ông dằn vặt với nhận xét: Ta cứ bắt chước Trung Quốc thì chỉ cho ra loại tranh, tượng kém hơn, vụng hơn, ngây thơ hơn mà thôi! Điều “dằn vặt” này đã đưa đến với giới họa sĩ một kết luận: “Đậm đà bản sắc dân tộc” thật đáng khích lệ! Mỹ thuật mỗi nước đều bị ảnh hưởng từ nền văn hóa mà nước đó chịu ảnh hưởng, ví dụ như Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Nga… ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp-La Mã cổ đại, nhuộm thêm màu Cơ đốc giáo. Nhưng mỗi nước lại tự xây dựng cho dân tộc mình một phong cách biệt lập: Pháp điệu đàng, mơ mộng đến mức dài dòng; Đức suy tư dằn vặt triết học; Tây Ban Nha nồng nhiệt và khốc liệt; Nga có vẻ nặng nề, hơi thô nhưng tình cảm đằm thắm, buồn da diết… Việt Nam ta có tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống, tượng Chăm Pa, Khơ-me, rồi tranh sơn mài, tranh thờ, tượng nhà mồ… đều là những loại hình mỹ thuật, hiện tượng mỹ thuật đặc sắc, riêng biệt. Song chúng ta chưa phát huy (hay nói đúng hơn là tạo dựng) được phong cách chính thống từ cái nền móng đó. Trong năm 2008, chúng ta có thể lạc quan qua 1.559 tác phẩm gửi tới 9 cuộc triển lãm mỹ thuật khu vực đã có nhiều tìm tòi về màu sắc, chất liệu, song chúng ta vẫn muốn có những tác phẩm xuất sắc, nổi trội, chứ không phải là “giải đồng hạng”.

Đối tượng phản ánh của mỹ thuật đang được mở rộng, nhiều phong cách mới được chấp nhận và được đánh giá cao, như các tác phẩm Đám cưới chuột tranh truyện của Ngô Mạnh Lân; Đêm trở gió của Nguyễn Lưu, Nắm cơm ông Ké của Phan Văn Thăng, Hạnh phúc của Lương Văn Việt và Phút ngẫu hứng của Nguyễn Thiện Đức. Dù rằng một vài tác phẩm chưa thể định hình phong cách cho cả một nền mỹ thuật, nhưng ta có thể thấy được những tín hiệu đầy lạc quan cho sự rộng mở về đề tài, phong cách, thể loại của mỹ thuật Việt Nam trong năm qua.

Một nhà lý luận nhận xét: Thời buổi mỹ thuật được “xã hội hóa” cao độ, chỉ bôi màu lên giấy, pha thêm chút “cá tính” thì ai cũng có thể trở thành họa sĩ, bởi nghệ thuật đương đại của ta không có thước đo cụ thể. Trong cái rườm rà, thô nhám, đa phong cách của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam nảy sinh trong thời buổi công nghệ thông tin hiện đại, chưa ai dám vỗ ngực nói về cái tôi-cá tính nhưng có thể thấy rằng sự khuấy động của xu hướng “xã hội hóa” mỹ thuật (đây chỉ là cách nói của một vài họa sĩ) này cũng có nhiều tác dụng tích cực, đó là sự tìm tòi, khám phá, đưa đến với công chúng yêu mỹ thuật nhiều góc nhìn đa dạng. Chúng ta không thể phê phán những con người yêu nghệ thuật cầm bút vẽ rồi đưa đi triển lãm chỉ vì họ chưa có bằng cử nhân nghệ thuật của 5 trường đại học mỹ thuật và nghệ thuật trong nước. Tôi thấy xu hướng xã hội hóa này cần được khuyến khích, nhân rộng trong năm tới. Hãy dẹp bỏ những định kiến hẹp hòi, trói buộc mỹ thuật trong tháp ngà cô độc. Tôi tin rằng, từ nhiều triển lãm của “nghệ thuật đại chúng” sẽ có những họa sĩ tài năng trong tương lai góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc của nghệ thuật Việt Nam.

Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, mục tiêu cuối cùng của nghệ thuật là phản ánh xã hội. Nhận thức có khuynh hướng “sách vở” này dường như đối lập với yêu cầu về phát huy nền mỹ thuật “đậm đà bản sắc dân tộc”, bởi nếu chỉ nhìn vào “bề nổi” của bụi bặm phố phường đô thị, “bê tông hóa”, “đô thị hóa” của những làng quê, nhiều phong tục của địa phương này, địa phương khác mất đi do cuộc sống hiện đại thật khó nhận ra bản sắc… Song không thể phủ nhận cốt cách dân tộc vẫn như sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong văn hóa dân tộc, trong tinh thần mỗi nghệ sĩ. Đó sẽ là cái đích người họa sĩ vươn tới, xây dựng cái đẹp trong thời đại mới. Trong năm qua, chúng ta có một cuộc triển lãm “Mỹ thuật học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” rất đáng chú ý. Đề tài hình ảnh lãnh tụ, chiến tranh cách mạng, lực lượng vũ trang, người lao động mới… lại một lần nữa được tái hiện với nhiều màu sắc lạc quan, hứng khởi. Điều đó cho thấy đề tài trong cuộc sống dồi dào, phong phú vẫn được các nghệ sĩ “thẩm thấu” qua lăng kính tài hoa của mình để chắt chiu cái đẹp cho đời.

Hội Mỹ thuật cho biết, năm 2009 tới sẽ tích cực đầu tư sáng tác, triển lãm, tổ chức hội thảo, tọa đàm nhằm nâng cao chất lượng của các tác phẩm mỹ thuật, tin rằng với sự đầu tư, khuyến khích đó Mỹ thuật Việt Nam sẽ đạt được những thành tựu xứng tầm.

Bài và ảnh: ĐÔNG HÀ