An Giang là một tỉnh miền Tây Nam Bộ, bắt đầu từ chỗ dòng sông Mê Công chảy vào nước ta được chia đôi. Phía đông và đông bắc An Giang giáp Đồng Tháp, phía đông giáp thành phố Cần Thơ, phía nam và tây nam giáp Kiên Giang, phía tây giáp Cam-pu-chia.
Vào thế kỷ 18, An Giang mang tên Châu Đốc đạo, là một vùng hoang địa, mênh mông rừng rậm, đầy thú dữ và chướng khí “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um”. Đạo Châu Đốc khi ấy chưa có xã, thôn, chỉ là nơi quân đội đóng giữ làm nhiệm vụ quản lý chủ quyền, ngăn ngừa xâm lăng và bảo vệ an ninh vùng đất mới. Thời Gia Long (1802-1820), vùng này được gọi là Châu Đốc tân cương, cư dân rất thưa thớt. Song đây lại là nơi chiến địa chịu nhiều cảnh binh đao, nguy cơ xâm lăng của “ngoại chủng” luôn đe dọa, sát cõi Chân Lạp, kề xứ Xiêm La với hai thủy đạo Tiền Giang, Hậu Giang chọc thẳng vào trung tâm An Giang và lại có vùng “Thất sơn khấu địa”... Do đó, Châu Đốc được coi là “Hùng phiên cự trấn” của Nam bộ, của cửa ngõ miền Nam. Vua Gia Long từng đánh giá: “Châu Đốc, Hà Tiên bờ cõi không kém Bắc thành”. Vua Minh Mệnh gọi Châu Đốc là vùng “Phiên lỵ địa đầu quan yếu”.
Để xác lập vương quyền trên vùng đất mới, nhà Nguyễn đã chia Châu Đốc thành các đơn vị hành chính, cử quan cai trị, khuyến khích mộ dân đến lập thôn ấp để vừa mở rộng khai phá, vừa tạo cơ sở xã hội cho sự thống trị của chính quyền Trung ương. Vì vậy, để phát triển kinh tế, dân cư, vua Gia Long đã nghĩ đến việc khai mở một con kênh từ Châu Đốc đến Hà Tiên. Sau khi nghị bàn việc đào sông, tháng 4-1816 (Bính Tý), triều đình sai các quan Lưu Phước Tường, Nguyễn Đức Sỹ đi đo đường đất từ Châu Đốc đến Hà Tiên, rồi vẽ bản đồ dâng lên. Khi xem bản đồ Châu Đốc, vua Gia Long nói: “Đất này mở đường sông để đi thẳng đến Hà Tiên, làm ruộng, đi buôn đều được lợi cả. Sau này cư dân đông đúc, đất mở rộng rãi có thể thành một trấn to lớn”.
Suy nghĩ của vua Gia Long không chỉ ở việc trù hoạch về kinh tế, dân sinh mà quan trọng hơn là phục vụ yêu cầu quốc phòng-an ninh, bảo vệ vùng đất mới khai phá. Tuy nhiên, kế hoạch đào kênh này gặp một số khó khăn ngăn trở nên mãi đến cuối năm Kỷ Mão (1819) mới được thi hành. Trong thời gian chuẩn bị, Triều đình lại tiến cử Trấn thủ Hà Tiên là Mạc Công Du đi đo đường sông Châu Đốc một lần nữa, rồi vẽ bản đồ dâng lên. Khi Chiêu thùy (một chức quan) của nước Chân Lạp tên là Đồng Phù sang chầu, vua Gia Long cho triệu vào hỏi việc đào kênh. Đồng Phù nói: “Khai sông ấy thì dân Chân Lạp được nhờ lợi, vua Phiên cũng muốn thế”. Đến tháng 12-1819 (Kỷ Mão), Triều đình khởi công đào kênh Châu Đốc. Vua sai trấn thủ Vĩnh Thanh là Nguyễn Văn Thụy và Trưởng cơ Phan Văn Tuyên đốc suất dân phu 5.000 người. Dân Việt cùng dân binh đồn Uy Viễn, mỗi người một tháng được 6 quan tiền, 1 phương gạo. Dân Chân Lạp được cấp mỗi tháng 4 quan 5 tiền và 1 phương gạo.
Đến tháng 3 năm Canh Thìn (1820), công trình chưa hoàn thành, nhưng thấy dân lao khổ quá lâu, triều đình ra lệnh cho tạm nghỉ. Lúc này, kênh đào được 3224 trượng. Những chỗ chưa đào thì mở lạch nhỏ tạm cho thông thương các thuyền con, đợi đến năm sau đào tiếp. Nhưng vào đầu năm Tân Tỵ (1821), ở Nam Bộ và một số địa phương xảy ra dịch bệnh nên triều đình tiếp tục cho hoãn việc đào kênh.
Tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1822), nhân việc Lạp Vương đưa thư đến xin được đem binh Chân Lạp đến hợp sức tiếp tục đào kênh, khi ấy Gia Long đã mất, Minh Mệnh nối ngôi vua đã sai Tổng trấn Lê Văn duyệt lập kế hoạch huy động dân binh chia làm 3 phiên, định đến đầu mùa xuân năm sau làm để đến đầu hè thì xong. Qua một vài lần trắc trở, đến tháng 4-1823, kênh đã đào được 10.500 trượng, còn lại 1.700 trượng chưa đào. Việc đào kênh sau đó phải dừng lại 8 tháng, đến tháng 2 năm Giáp Thân (1824) lại tiếp tục. Do thời kỳ này, việc quân tạm ổn, dịch bệnh trong dân đã hết, “nước nhà nhàn rỗi’, triều đình lại điều động 24.700 dân binh các trấn thuộc thành và nước Chân Lạp làm việc. Công việc đào kênh vất vả, qua hai đời vua (Gia Long đến Minh Mệnh) trải gần 5 năm, từ ngày 15-12 năm Kỷ Mão (1819) đến tháng 5 năm Giáp Thân (1824), việc mở kênh mới hoàn thành. Kênh rộng 15 tầm, sâu 6 thước, chiều dài con kênh từ Châu Đốc đến Giang Thành, Hà Tiên khoảng 98.300m. Để tưởng nhớ đến công lao to lớn của những người dân đã ngã xuống cho việc đào kênh, triều đình đặt tên là kênh Vĩnh Tế. Vĩnh Tế là tên người phụ nữ đã lo việc hậu cần giúp chồng (quan binh Thoại Ngọc Hầu) trong quá trình chỉ huy việc đào kênh.
Kênh Vĩnh Tế thực sự là một công trình vĩ đại, một bằng chứng về tình hữu nghị hợp tác lao động Việt-Lạp, một thành tựu của nhà Nguyễn ở buổi đầu thế kỷ 18 trong việc “khai cương thác địa” và quản lý lãnh thổ phía nam. Lợi ích hiện thực của con kênh làm cho triều đình, quan binh và nhân dân phấn khởi. Bởi trước khi khai mở kênh Đông Xuyên (Long Xuyên-Rạch Giá) và kênh Châu Đốc, việc công tư từ Châu Đốc đi Hà tiên rất chậm trễ. Từ khi kênh đào xong, việc cơ động lực lượng, chuyển vận binh mã, lương thảo đến vịnh Xiêm La không phải đi vòng ra biển, một khi Hà Tiên, Rạch Giá gặp họa xâm lăng. Việc khai kênh cũng làm cho tình hình mất trật tự an ninh vùng Châu Đốc-Thất Sơn giảm, các quan binh như cất được gánh nặng. Sách Đại Nam nhất thống chí viết: “Từ đây, dòng sông lưu thông từ kế hoạch trong nước, phòng giữ ngoài biên cho đến nhân dân buôn bán đều được tiện lợi vô cùng”
“Hùng phiên cự trấn” - An Giang xưa, ngày nay là tỉnh đứng đầu cả nước về sản lượng lúa. Ngoài trồng lúa, người dân An Giang còn trồng bắp, đậu nành và nuôi trồng thủy sản nước ngọt như cá, tôm... An Giang cũng còn nổi tiếng với các đặc sản: mắm Châu Đốc, khô bò, bánh phồng Phú Tân, đường thốt nốt, bông điên điển, tung lò-mò (lạp xường bò) và các nghề thủ công truyền thống. An Giang còn được biết đến với những danh lam thắng cảnh khác, một trong số đó là kênh Vĩnh Tế lịch sử./.
Trang Thu