Vào những ngày Tháng Tám lịch sử, nhân dân Thủ đô vui mừng đón thêm một tên phố mới: Phố Nguyễn Tư Giản, tôn vinh một trí thức lớn thế kỷ XIX nước ta, một danh nhân văn hóa đất Thăng Long.
Nguyễn Tư Giản (1823-1890) quê làng Du Lâm, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội). Ông đỗ Hoàng giáp năm 21 tuổi. Trong khoảng 40 năm giữ nhiều chức quan trọng qua ba đời Triều Nguyễn, ông đã để lại một di sản to lớn và quý báu về văn học, triết học...
Nhân dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội và 110 năm ngày mất Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản (1890-2000), tiến sĩ Đỗ Đức đã công bố “Bản mật sớ năm 1859” (có tên là “Sớ đánh Tây") của Nguyễn Tư Giản từ Bắc gửi vua Tự Đức “nói thiết tha không hòa với Tây Dương”.
Bản mật sớ của ông được chép trong “Công văn tấu tập” của triều Nguyễn giúp chúng ta hiểu thêm về “phái chủ chiến” và “chủ hòa” trong giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX.
Mở đầu bản Mật sớ qua tin tức thực dân Pháp xâm lấn bờ cõi phía Nam “như buông nọc độc, thần người tức giận” – Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản – lại nghe tin giặc có thư xin hòa và triều đình cử sứ đi bàn việc giảng hòa, ông viết: “Chúng tôi từ khi nghe được tin ấy lo sợ mướt mồ hôi, cho việc này thật là mối yên nguy rất lớn của nước nhà”,... “Hòa mà hại nước thì có, chứ hòa mà yêu nước thì chưa từng có vậy”.
Phân tích về bản chất kẻ thù, ông viết: “Quân giặc tham lam không chán, dù hết của cải cả thiên hạ cũng khó đầy được bụng muốn của nó để cho nó khỏi trở lại cắn mình”. Ông viết tiếp: “Vả lại quân giặc hung ác như sói beo, tham lam như chó lợn. Đã hòa với ta rồi thì mọi việc chúng yêu cầu đều phải cho thì ta chịu sao nổi được thói tham bạo của chúng”. Trước những dự báo về tai vạ ngày càng đang khốc liệt và không thể tránh được, ông kết luận: “Muốn cầu thôi quân, quân không thể thôi được, muốn cầu yên dân, dân không thể yên được”.
Với kiến thức uyên bác, với một lối sống gần gũi nhân dân, tin tưởng lòng dân, ông dành một phần bản tấu trình bày kế hoạch chống giặc mang tính chiến lược, lấy mục tiêu “Giữ là chủ yếu, rồi tùy thời cơ điều quân kỳ binh ra lẻn đánh thì may có thể được”. Ông phân tích: “Thuyền to, pháo đài dựa nơi cao để trông xa, ra vào sóng gió, như đi trên đất bằng, đấy là lợi của súng trường mà là món sở trường của giặc. Ụ cát, cồn cây, có thể núp để đánh bằng gươm ngắn, bay múa như gió, chạy nhảy xông pha, súng bắn không kịp, đấy là lợi của lính bộ, mà là món sở trường của ta... Bỏ cái dở của ta, tránh cái hay của giặc, người xưa bảo bỏ chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, lấy quân thực, chống quân hư thì có lợi là thế đấy”. Suy nghĩ về thế và lực của cả ta lẫn địch, ông bàn về kế sách đánh lâu dài: “Phàm là kỳ binh thì thay phiên mà cầm cự, đánh cho được lâu. Quân giặc có hạn, mà quân ta thì nhiều, lấy quân thong thả của ta mà đối chọi với quân mỏi mệt của giặc”. Và để đánh lâu dài ông chỉ ra chiến thuật mà ngày nay ta gọi là đánh du kích: “Giặc tất phải bỏ thuyền lớn ở bể, chèo xuồng máy nhỏ lên mà đánh. Còn ta thì chống giữ bền chặt mà không đánh, nhưng trên các dòng sông thì dự trữ củi lửa và các đồ diêm tiêu lau sậy, nhân chiều gió tung lửa mà đốt”, “nay đất thành Điện, Yên (Điện Bàn, Yên Sơn – Quảng Nam) gần chỗ xung yếu của giặc, ta cũng khó giữ được, nhưng nếu giặc chiếm lấy để bức ta, thì ta phải chiêu mộ nhiều quân lính liều chết tung lửa ra đốt đồn trại, phá rối chỗ cư trú, làm cho giặc phải mệt mỏi về sự phòng bị. Còn ta thì không nghỉ ngơi, ngày thì đóng quân yên lặng, đêm thì lẻn ra đánh giết, hoặc làm thùng gỗ lẻn bơi ra bể nhảy lên thuyền giết giặc". Ông còn viết tiếp: "Mình nghỉ ngơi mà làm cho giặc phải mệt nhọc. Khuấy cho giặc rối loạn để mà lấy. Giặc có bụng sợ, dùng cách phản gián mà phân ly ra...".
Về phần xây dựng lực lượng vũ trang, Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản đã nêu lên những quan điểm, phương cách hết sức mới mẻ có tầm nhìn xa trông rộng, vừa nhân hậu vừa độ lượng, giàu sức tập hợp của tư tưởng chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Ông đề nghị: "Nay nên mộ những người mạnh khỏe, gan dạ, có khí phách không sợ chết... Mộ được càng nhiều càng tốt. Lại phải giúp đỡ cho gia đình họ. Hễ mộ được một người cảm tử, mỗi tháng cho lương ít nhất cũng vài trăm quan tiền hoặc hai, ba mươi lạng bạc". Ông đề ra một loạt chính sách dung dưỡng tinh thần và sức lực binh sĩ: "... hễ ai chém được đầu một tên chủ thuyền đem nạp, thì sẽ thưởng cho chức quan võ tam phẩm, và thêm 200 lạng vàng, 1.000 lạng bạc...", "Nếu người nào không may mà bị giặc giết, thì phong ấm cho con cháu... cho được đi theo quân đánh giặc, nếu lập được công thì sẽ phá cách bạt dụng". Đối với kẻ phạm tội, ông cũng có những cách xử lý rành mạch: "Lại dân ta theo đạo mắc án, nếu người nào biết thật tâm hối lỗi, cũng cho giết giặc lập công chuộc tội. Triều đình cũng không cần hỏi tội theo giặc trước nữa".
Cuối bản Mật sớ, ông viết: "Quân giặc Pháp tàn ngược, nhân dân cả nước ai cũng căm thù, nên đều có chí giết giặc. Chúng tôi xin triều đình đừng bảo là không có người trung thần nghĩa sĩ, không có người tướng giỏi tài cao, mà cam chịu sự bàn hòa nhục nhã này".
Vua Tự Đức nhận được tờ sớ này vào tháng 7 năm 1859. Tiếc rằng tập "gián ngôn" dài của ông đã bị vua Tự Đức gạt phắt sang một bên, dù vẫn công nhận là "xuất phát từ lòng yêu nước" và "nói thật nói thẳng cũng là bổn phận của bề tôi, trẫm miễn tội cho khanh".
“Bản mật sớ 1859" có giá trị góp phần khẳng định Nguyễn Tư Giản không chỉ là một trí thức lớn, một danh nhân văn hóa của nước ta mà còn là một trong những người đầu tiên có tư tưởng chủ chiến chống Pháp nửa sau thế kỷ XIX.
HÀN THỤY VŨ