QĐND - Khi còn chưa đầu quân về Văn nghệ Quân đội – nơi nhà văn Hồ Phương đang là Phó tổng biên tập, tôi đã đọc những truyện ngắn đứng ở đầu nguồn dòng văn học viết về đề tài chiến tranh cách mạng và người lính nổi tiếng của ông như: Lưỡi mác xung kích và Thư nhà được in ở Tạp chí Văn nghệ năm 1949, trong đó Thư nhà đã được coi là truyện ngắn xuất sắc của văn xuôi kháng chiến; lại còn được biết thêm những truyện ngắn này ông viết khi mới 17, 18 tuổi lúc còn là anh lính Vệ Quốc quân “súng bắn chưa quen/ quân sự mươi bài”; lại cũng đã hình dung về ông – người khi ấy đang “ba cùng” dài dài với các chiến sĩ hải quân để viết cuốn Biển gọi, cuốn tiểu thuyết đầu tiên về những con tàu không số, qua mấy câu thơ của nhà thơ Xuân Sách: "Trên biển lớn, mênh mông trời nước/ Ngó trông về Xóm mới tít mù xa/ Cỏ non nay đã về già/ Buồn tênh lại giở Thư nhà ra xem" (cũng như Thư nhà, Cỏ non, Xóm mới, Trên biển lớn là tên tác phẩm của Hồ Phương ).
Tôi nghĩ, đó là bài thơ, là bức ký họa các bác ấy lỡm ghẹo nhau cho vui thôi chứ mấy liệt kê tác phẩm của Hồ Phương trong bài còn rất thiếu. Ngoài những cuốn đó, ông còn có: Chúng tôi ở Cồn Cỏ (1966), Nhằm thẳng quân thù mà bắn (1967), Kan Lịch (1968), Khi có một mặt trời (1972), Những tầm cao (2 tập), Phía Tây mặt trận (1978), Những tiếng súng đầu tiên (1980), Biển gọi (1980), Cầm Sa (1980), Bình Minh (1981), Mặt trời ấm sáng (1981), Chân trời xa (1985), Anh là ai? (1992), Ông trùm (1992), Cánh đồng phía Tây (1994), Yêu tinh (2001), Ngàn dâu (2002), Những cánh rừng lá đỏ (2005), Cha và con (2007)… Thêm nữa, Hồ Phương là nhà văn của công việc, “nghiền” chữ nghĩa từ khi còn là một học sinh Hà Nội, vào bộ đội càng mê viết. Mười sáu tuổi có truyện ngắn được in, 18 tuổi tham gia ban biên tập tờ Quân Tiên Phong – báo của Sư đoàn chủ lực 308 anh hùng, nơi có nhiều “nhà văn trung úy” tài năng; hăm tư tuổi tham gia Chiến dịch Điên Biên Phủ, về tiếp quản Thủ đô (1954) là Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, có chân trong Ban Biên tập đầu tiên của Tạp chí Văn nghệ Quân đội; đồng thời là nhà văn đầu tiên được phong hàm Thiếu tướng. Có danh phận trong quân ngũ và văn giới, nhưng không khi nào ông bỏ đọc, đi và viết, càng không bao giờ có thì giờ để mà “buồn tênh” giở thành tích cũ, trang viết xưa ra gặm nhấm. Với ông, dường như viết là niềm vui, là hạnh phúc, là lý do để sống. Cỏ - nguồn cảm hứng, nội lực sáng tạo trong ông luôn là cỏ non, cỏ chẳng bao giờ già! Thanh Tịnh bảo “tuổi tuy hưu trí, trí không hưu”, ông – nhà văn “đầu đội mũ cối / mình ngồi Pơ-giô” thì bảo: Với nhà văn không có tuổi hưu, “còn xăng, còn chạy”.
Ông nghỉ hưu đã gần 15 năm nay, nhưng dường như năm nào cũng có sách in, trong đó có những cuốn gây được dư luận trong bạn đọc như cuốn Cha và con viết về tuổi thơ của Bác Hồ, cuốn Cánh đồng phía Tây viết về Chiến dịch Điện Biên Phủ. Hai cuốn Những cánh rừng lá đỏ và Ngàn dâu vừa mới được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật lần thứ 4 năm 2012 cũng là những tác phẩm ông viết lúc đã “treo ấn từ quan”, đã là “tướng về hưu”.
Những cánh rừng lá đỏ viết về chiến dịch biên giới nổi tiếng trong kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta. Là người từng tham gia chiến dịch nên tác giả viết rất nhuần nhuyễn. Sự kiện xảy ra đã 60 năm mà cảnh, mà người mà không khí trận mạc vẫn như vừa diễn ra. Hình ảnh đẹp nhất, sống động nhất là những người chiến sĩ chiến đấu ngoan cường và quả cảm bên cạnh bà con nhân dân các dân tộc Việt Bắc, là hình ảnh Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí lãnh đạo Đảng, các tướng lĩnh trong Bộ Chỉ huy mặt trận. Ở trang 150, tác giả viết đầy trân trọng, đầy tình cảm: “Ngày 15 tháng 8 năm 1950, sau khi ba cán bộ tham mưu ra về, Bác đề nghị với các đồng chí Thường vụ Trung ương cho Bác cùng đi chiến dịch lần này. Bác muốn lên đó cùng với Đảng ủy, Bộ chỉ huy mặt trận và tất cả anh em cùng xem xét kỹ chuyện này và cùng thực hiện cho thật tốt… các đồng chí thường vụ đều muốn can ngăn Bác vì sợ Bác tuổi cũng đã cao, e sức yếu, Bác đã cười rất vui và đọc lại bài thơ tự trào Bác làm vào dịp 19-5-1950 khi mọi người tổ chức chúc thọ Bác 60 tuổi:
 |
|
Thiếu tướng, nhà văn Hồ Phương. Ảnh: GDVN
|
Sáu mươi tuổi vẫn còn xuân chán
So với ông Bành vẫn thiếu niên
Ăn khỏe, ngủ ngon, làm việc khỏe
Trần mà như thế kém gì Tiên!
… Và thế là hôm nay Bác lên đường. Ba ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Chí Thanh cứ thầm tự hỏi: Không biết khi xưa, trong lịch sử, các bậc anh quân thân chinh cầm quân đi chiến trận như thế nào, không thấy có sách nào ghi chép lại thật tỉ mỉ, chỉ biết hôm nay vị Chủ tịch nước, lãnh tụ tối cao của Đảng ta đích thân ra trận mà thế này đây: Giản dị làm sao, nhưng cũng vĩ đại làm sao!”.
Còn Ngàn dâu là một câu chuyện khác lạ so với nhiều ký, phóng sự, truyện ngắn, tiểu thuyết về chiến tranh và người lính mà Hồ Phương đã từng viết. Nhân vật chính trong Ngàn dâu là một sinh viên y khoa, một thanh niên Hà Nội đi kháng chiến đã trải qua những giây phút nghiệt ngã nhất của cuộc sống chiến tranh, khi ở bên này, lúc ở bên kia chiến tuyến…
Hồ Phương là nhà văn quân đội, là “nhà văn của những dòng ngợi ca” như người ta vẫn thường nói, nhưng khi viết Ngàn dâu ông không chỉ ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, không chỉ phác thảo gương mặt của những người anh hùng, miêu tả những hành động anh hùng mà ông còn có những trang viết bi tráng nói về những trăn trở, dằn vặt những mất mát hy sinh lớn lao của người lính; đặc biệt là những người lính Hà Nội mùa đông năm 46 “ra đi đầu không ngoảnh lại/ sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”, lên chiến khu, thành Bộ đội Cụ Hồ rồi vẫn “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”!
Chiến tranh với ông, vẫn còn rất nhiều những khuất lấp, những thân phận, những cuộc đời. Cái giá của chiến thắng thật lớn, chiến tranh thật sự là một thử thách rất lớn của một dân tộc, của mỗi một gia đình, của từng cá nhân con người. Hồ Phương có lần viết như vậy và ông nói thêm: Viết thế, viết nữa vẫn còn là chưa hết, chưa xứng đáng với những hy sinh của đồng chí đồng đội mình!
Đời bộ đội, đời viết văn của Hồ Phương không chỉ gắn bó với Việt Bắc, Tây Bắc, Điện Biên – những nơi ông từng tham chiến, gắn bó với Hà Nội – nơi ông sinh ra, theo học khi tuổi hoa niên và hiện đang cư trú mà còn rất gắn bó với biển đảo. Nhưng dù là viết về rừng về biển thì nhân vật mà ông đau đáu nhất, nhân vật ông nói ông còn “mắc nợ” nhiều nhất, nhân vật đã tạo niềm cảm hứng sâu sắc nhất cho ông vẫn là những người lính, những đồng đội của ông trong suốt dằng dặc mấy mươi năm chiến tranh cùng một nhân vật nữa, “người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân” – đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu mà ông thường viết một cách trìu mến là Ông Ké, ông Cụ, Cha già. Là cây bút văn xuôi giàu kinh nghiệm, nhưng đồng thời ông cũng là nhà văn luôn đổi mới cách viết. Ông bảo: “Chiến tranh đã qua rồi. Đã có thể rũ bỏ những hạn chế và vượt qua những công thức, cùng mọi ấu trĩ xưa, để đổi mới ngòi bút. Nhưng đổi mới không có nghĩa là chối bỏ hết mọi thành tựu ta đã có, để chạy theo những gì là lai căng, lập dị, huênh hoang, ít nhất là quá xa lạ”. Những trải nghiệm của một đời cầm bút đã giúp ông có những suy nghĩ nghiêm túc về nghề văn, thấy được nhu cầu cần thiết phải đổi mới, đổi mới là sống còn nhưng đổi mới không có nghĩa là xa rời truyền thống, quên đi những giá trị của quá khứ anh hùng mà dân tộc, mà nhân dân và những người lính nhiều thế hệ đã đổi bằng cả nước mắt, mồ hôi và xương máu của mình mới có được. Viết cái gì và viết như thế nào? Viết cho ai, viết để làm gì? luôn là câu hỏi mà ông đặt ra khi cầm bút. Bằng những suy nghĩ thành tâm như vậy, bằng suốt cả cuộc đời hơn 65 năm bền bỉ cầm bút, tác giả Cỏ non đã 83 tuổi như vẫn chưa già! Ông xứng đáng được bạn đọc tôn vinh, xứng đáng được trao tặng giải thưởng cao quý: Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
NGÔ VĨNH BÌNH