Rừng đã được trồng nhiều ở những vùng bom đạn tàn phá năm xưa.

Thực hiện Luật Di sản Văn hóa và Quyết định số 156/2005 QĐ-TTg ngày 23-6-2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc Quy hoạch tổng thể hệ thống Bảo tàng Việt Nam đến năm 2020, ngày 13-9, tại thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân Thành phố phối hợp cùng Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức Hội thảo Quốc tế "Phát triển Bảo tàng Lịch sử tự nhiên TP Hồ Chí Minh". Tham dự Hội thảo có hơn 200 đại biểu là các nhà khoa học Việt Nam và các nước Cộng hòa Pháp, Hoa Kỳ, Hà Lan, CHLB Đức…; Tổ chức văn hóa và giáo dục UNESCO; đại diện các bảo tàng hàng đầu trên thế giới. Đây là bước đi thích hợp nhằm hình thành và thực hiện Dự án đầu tư xây dựng Bảo tàng Lịch sử tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh có quy mô rộng 30ha tại Công viên Lịch sử Văn hóa Dân tộc trên địa bàn quận 9. Không tính giá trị đất, Dự án có tổng vốn đầu tư hơn 97,5 triệu USD…

Dự án mang tầm cỡ khu vực

Theo các nhà khoa học, Việt Nam là một trong những nước có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm, giàu đa sinh học, nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa có bảo tàng lịch sử tự nhiên, để gìn giữ các mẫu vật thiên nhiên quý giá của đất nước và nhân loại.

Đánh giá về quy mô và các mục tiêu của Dự án, bà Nguyễn Thị Hồng, Phó chủ tịch UBND thành phố, cho biết: Bảo tàng Lịch sử tự nhiên TP Hồ Chí Minh được xác định là bảo tàng vùng, bao gồm các tỉnh Nam Trung bộ và Nam bộ, mà trọng tâm là thành phố Hồ Chí Minh. Bảo tàng sẽ là công trình văn hóa khoa học đặc sắc, một trung tâm khoa học-giáo dục lớn không chỉ của thành phố Hồ Chí Minh mà nó có tầm cỡ của cả khu vực.

Giới thiệu quy mô và mục tiêu của Dự án, ông Lê Dũng, Tổng giám đốc Liên hiệp Khoa học Dịch vụ công nghệ và sản xuất (PTC) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cho biết: Với các tiêu chí xây dựng bảo tàng "Hiện đại-hấp dẫn-phát triển bền vững và mang bản sắc văn hóa của thành phố", Bảo tàng được xác định có quy mô trung bình, đạt tiêu chuẩn quốc tế, có hệ thống vận hành tiêu chuẩn, thỏa mãn các hoạt động sưu tầm, bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục và truyền bá kiến thức cho công chúng.

Các nội dung quan trọng của bảo tàng được thể hiện thông qua phác thảo kịch bản, bao gồm các chủ đề chính: Trái đất và vũ trụ; Sơ lược lịch sử hình thành, phát triển của đất nước và con người Việt Nam; Giới thiệu về thành phố Hồ Chí Minh, về con người, những thành tựu trong xây dựng, tái thiết và bảo vệ; Các bộ sưu tập về thiên nhiên; Thiên nhiên ở Việt Nam và khu vực phía Nam; Tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái đặc trưng; Các vấn đề về tài nguyên-môi trường, địa chất và chất độc màu da cam… Trong đó, các bộ sưu tập hiện vật và mẫu vật là linh hồn, quyết định quy mô và giá trị của bảo tàng. Khi đi vào hoạt động (dự kiến vào năm 2014), trong những năm đầu, phần lớn các mẫu vật và hiện vật sẽ được các bảo tàng và cộng đồng trong nước và quốc tế hoàn trả, tặng, chia sẻ. Những năm sau đó, bảo tàng từng bước đầu tư để đạt quy mô 5 triệu mẫu vật. Để đạt được quy mô đó, ngoài việc cần một khoản tài chính đáng kể, bảo tàng cần phải có một đội ngũ chuyên gia giỏi, các nhà khoa học chuyên sâu ở nhiều lĩnh vực. Giai đoạn đầu có thể sẽ gặp không ít khó khăn, nên ngay từ bây giờ, thành phố Hồ Chí Minh cần có kế hoạch tuyển dụng và đào tạo cán bộ khoa học phù hợp yêu cầu chuyên môn của dự án.

Một thông điệp hòa bình

Theo GS Võ Quý (Đại học Quốc gia Hà Nội), tài nguyên thiên nhiên là nền tảng của sự tồn tại và phát triển của đất nước và dân tộc. Sự thoái hóa của các hệ sinh thái tự nhiên trên trái đất là một quá trình tiếp nối và ngày càng bị tác động nhiều hơn do các hoạt động, mà chiến tranh là hoạt động có tính tàn phá khốc liệt nhất. Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam vừa qua là cuộc chiến tranh chưa từng thấy trong lịch sử thế giới, một cuộc chiến tranh đánh thẳng vào môi trường. Nghiêm trọng hơn cả là trong thời gian này quân đội Mỹ đã sử dụng khoảng 80 triệu lít các loại chất độc diệt cỏ mà phần lớn là chất Da cam có chứa chất đi-ô-xin (TCDD), một loại chất cực độc, diện tích bị rải chất độc hóa học chiếm khoảng 24,67% diện tích miền Nam Việt Nam. Cho đến nay, dấu vết của chất độc đi-ô-xin vẫn còn tìm thấy trong đất ở những vùng bị nhiễm nặng, ô nhiễm đi-ô-xin đang gây ảnh hưởng xấu lên môi trường và cuộc sống nhân dân trong vùng. Theo số liệu nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam và của Mỹ, ở Việt Nam hiện có hàng triệu người là nạn nhân chất độc da cam của quân đội Mỹ rải xuống Việt Nam.

Giáo sư Võ Quý cho rằng, với quy mô và các tiêu chí tiên tiến, các hoạt động nghiên cứu khoa học của Bảo tàng là cơ sở khoa học để thống kê, đánh giá các mặt sinh thái học các vùng bị rải chất độc hóa học, để xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai; Đánh giá lại mức độ ô nhiễm đi-ô-xin tại các điểm nóng (là các căn cứ của quân đội Mỹ trước đây), mối liên quan giữa môi trường bị ô nhiễm và sức khỏe của nhân dân quanh vùng để có biện pháp khắc phục; Phục hồi môi trường tại các khu vực bị ảnh hưởng bởi các hoạt động quân sự, nhất là các vùng bị suy thoái do chất độc hóa học; Giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số hiện đang sống trong các khu vực bị ảnh hưởng do chiến tranh nâng cao mức sống, để họ không còn gây sức ép lên rừng, săn bắt các loài động vật quý, hiếm… Và trên hết, Bảo tàng sẽ là nơi giáo dục chúng ta về hậu quả của chiến tranh, giúp chúng ta hiểu được sự tàn phá của bom đạn, của con người đối với thiên nhiên trên trái đất từ đó nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, chống chiến tranh, xây dựng nền hòa bình không những cho nhân dân Việt Nam mà cho cả nhân loại.

Đó là thông điệp hòa bình của nhân dân Việt Nam gửi đến cộng đồng các dân tộc trên toàn thế giới.

Bài, ảnh: VĂN DŨNG