QĐND Online-Một chiều thành Vinh mưa lất phất bay, tôi tách khỏi dòng người đang hối hả ngược xuôi trên đường, tìm đến căn phòng nhỏ ở khu trung cư Quang Trung (phường Quang Trung, Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) để gặp nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Ninh Viết Giao.
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất xứ Thanh, nhưng PGS Ninh Viết Giao lại mang trong mình tình yêu tha thiết với dân ca xứ Nghệ. Theo ông, dân ca xứ Nghệ là một di sản tinh thần vô giá, kết tinh trí tuệ, tình yêu và tài hoa của bao thế hệ, cộng đồng dân cư, của các dân tộc anh em trên quê hương Nghệ An – Hà Tĩnh.
“Có thể xem đó là một thứ rượu đặc biệt, được chưng cất từ nụ cười và những giọt nước mắt, từ những say đắm mãnh liệt cũng như nỗi buồn đau khắc khoải, từ mồ hôi, nước mắt và máu của nhân dân, là tấm gương phản chiếu một cách trung thực nhất, sâu sắc nhất đời sống vật chất và tinh thần, những nét riêng trong truyền thống, bản sắc, tính cách của con người xứ Nghệ”, PGS Ninh Viết Giao chia sẻ.
Những câu dân ca ví, giặm có mối gắn bó thân thiết với mỗi người dân xứ Nghệ. Ngay từ khi còn thơ ấu, các em nhỏ đã được nghe câu dân ca ru hời của bà, của mẹ. Lớn lên thêm chút nữa, các em truyền cho nhau những trò chơi dân gian qua các bài đồng dao, bài vè quen thuộc. Thời niên thiếu qua đi, những bài đồng dao trả lại cho đàn em, thanh thiếu niên lại hát những bài ví, giặm để đối đáp, bày tỏ tình cảm của mình với người yêu.
Theo PGS Ninh Viết Giao, nếu phân theo loại hình lao động thì xứ Nghệ có đến hơn 20 loại hát ví; nếu chia làn điệu theo tình cảm, hát ví cũng tương đối đa dạng với: ví thương, ví giận, ví ai oán, ví tình cảm... tức là con người có bao nhiêu cung bậc tình cảm thì có bấy nhiêu loại hát ví.
Trong các cuộc hát ví thường hình thành hai nhóm nam và nữ, mỗi nhóm có thể là một nam, một nữ, nhưng cũng có thể nhiều hơn. Có đến hàng trăm câu ví lần lượt được đưa ra để đối đáp. Và rồi, những câu hát ấy được lớp thế hệ sau ghi nhớ bởi lời thơ bình dị, dễ thuộc, chau chuốt, mượt mà.
 |
|
Một tiết mục trong liên hoan dân ca ví, giặm xứ Nghệ do UBND tỉnh Nghệ An tổ chức năm 2012. Ảnh: Chu Anh.
|
Về lời ca, hát ví lấy thể thơ lục bát làm gốc, về sau do nhu cầu tình cảm của nội dung mà hình thức dần dần được biến hoá, tiết tấu phát triển, người ta hát ví trên thể thơ song thất lục bát.
Câu ví truyền thống được xây dựng trên hệ thống điệu thức năm âm, giai điệu được lập thành trên một câu thơ lục bát hoàn chỉnh mà những âm chính của điệu thức được vận động biến hoá ở âm thứ sáu của cả hai vế trong câu thơ. Vậy là vần của thơ đã gắn liền với điệu của nhạc, nhịp điệu của câu hát được gắn liền với tiết tấu câu thơ.
Trong hát ví, thanh niên nam nữ đã vượt ra khỏi tầm tư tưởng phong kiến, họ từ làng này sang làng khác, từ vùng nọ qua vùng kia để tìm bạn hiền, chọn vợ, chọn chồng bằng quyền tự do của chính mình. Rõ ràng, họ đã lấy hát ví làm ngọn giáo để chống lại tư tưởng kìm kẹp, o ép của chế độ phong kiến bấy lâu.
Khi câu hát cất lên người nghe vừa thấy dí dỏm lại vừa buồn man mác. Người nghệ sỹ nông dân đã gửi gắm vào trong những lời ca, câu hát biết bao tâm tư, tình cảm ấp ủ bấy lâu. Ta có thể coi hát ví là những bản tình ca của người lao động xứ Nghệ.
Hát ví thường có những từ đệm như: ơi, ơ, chứ, thì, rằng, mà... xen kẽ giữa các nhịp, các tiết của lời thơ, lúc mở rộng kéo dài, lúc ngân nga lơ lửng. Cách vận dụng những tiếng đệm này vào trong cơ cấu giai điệu còn được gọi là bắt giọng, giữ giọng, lấy hơi, giữ hơi... Đó là yếu tố xây dựng cao độ, trường độ, cường độ, là những nhân tố tạo màu sắc không thể thiếu trong cơ cấu giai điệu của hát ví.
Vào cuộc hát ví, bên nam hỏi, bên nữ đáp "thưa chi" thì bên nam mới tiếp tục hát. Hay ngược lại, bên nữ hỏi nếu được bên nam đáp lại thì mới hát tiếp. Họ vừa làm, vừa hát để tăng thêm sự lạc quan yêu đời, yêu lao động. Và đặc biệt trong câu hát ví, những nghệ sỹ nông dân “hai sương một nắng” trên đồng ruộng vụt trở thành những “tiểu thư khuê các”, những “trang công tử hào kiệt”, hát để bày tỏ tấm lòng của mình. Điều này đã làm cho hát ví trở nên tế nhị hơn, độc đáo hơn.
Hát ví xứ Nghệ đa dạng về thể loại, mỗi nghề nghiệp, mỗi công việc lao động đều được ghép tên theo hát ví và những người lao động chính là những người sáng tạo ra hát ví. Nhưng dựa theo tính chất kết cấu trong âm nhạc cũng như cách gọi tên các lối ví trong nhân dân, ta có thể chia hát ví thành hai hình thức: Ví phường vải (hay còn gọi là giọng phường vải) và ví đò đưa (hay còn gọi là giọng đò đưa). Hai hình thức hát ví này đều có những điểm đặc biệt và độc đáo riêng.
Hiện nay, trong xu thế mở cửa và hội nhập, những loại hình nghệ thuật dân gian như hát ví đang có nguy cơ thất truyền và mai một. Thiết nghĩ, hát ví là một nét sinh hoạt văn hoá lành mạnh, mang đầy tính nhân văn trong đời sống nông nghiệp, góp phần không nhỏ tạo nên sắc thái văn hoá độc đáo của dân tộc Việt Nam cần được giữ gìn, bảo tồn và phát huy trong tương lai.
Vũ Hạnh