QĐND - Thơ vốn không chứa chất trong mình quá nhiều chất truyện kể, có chăng kể một câu chuyện chỉ để gợi một tầng nghĩa khác bởi thơ cốt gợi. Bài thơ “Tàn lửa’’ của Vi Văn Chôồng-một nhà thơ dân tộc Thái của núi rừng miền Tây xứ Nghệ ngỡ tưởng chịu ảnh hưởng của chất truyện trong những sử thi dân gian khi trọn bài thơ chỉ đơn giản kể lại một câu chuyện: Đốt đuốc đi đến nhà người yêu.
Nhưng bài thơ không phải là một sáng tác ghi lại phong tục của một tộc người mà đích thực đây là một bài thơ trữ tình. Nhà thơ đã rất khéo léo khi gài trong câu chuyện phong tục một hành trình đi tìm tình yêu-tượng trưng cho một khát khao đi tìm hạnh phúc; rồi mở ra chân trời để tâm hồn người đọc suy ngẫm cho cuộc hành trình tìm kiếm cho chính bản thân mình.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh một đuốc lửa lập lòe trong đêm. Khổ thơ thứ nhất gợi một không khí thơ, thông báo tâm trạng nhân vật và cũng là thời điểm xuất phát của hành trình mở ra một khát khao đang ẩn giấu:
Lập lòe đuốc lửa
Anh đi tìm em
Đi trọn một đêm
Đi tròn hai đêmLập lòe đuốc lửa
Thời gian được đo bằng đơn vị “đêm”: Trọn một đêm, tròn hai đêm… Bản thân hai chữ “trọn” và “tròn” có nhiều nghĩa nhưng trong trường hợp này chúng có nghĩa giống nhau là: Xác định một thời điểm và đồng thời mang nghĩa hoàn thành một hành động.
Hết khổ thơ thứ nhất sang khổ thơ thứ hai là kết thúc hành trình đo bằng đơn vị toán học. Nơi cần tìm, nơi cần đến là đây: Ngôi nhà người yêu – ngôi nhà hạnh phúc. Đuốc lửa vẫn ở trong tay và sáng hơn bao giờ hết nó như là tình cảm của chàng trai dành tặng riêng cô gái. Bao hy vọng chất chứa, bao vất vả của một hành trình tìm kiếm sắp sửa được đền đáp, thế nhưng:
Đèn không sáng cửa
Biết em ngủ rồi
Anh dụi tắt lửa
- Quay về đi thôi
Nhà thơ đã tạo được kịch tính của một bài thơ trong một khổ thơ. Chính kịch tính đó làm thay đổi tứ thơ, làm văn bản thơ không liên tục, chứa đựng những khoang trắng, đậm chất thơ, nơi thơ lặng đi, cái lặng tràn ngập cảm xúc và tư duy. Cảm xúc tràn ngập ngậm ngùi cho một sự thất vọng vì những lý do ngoại cảnh và đồng thời mở ra một cuộc hành trình mới bằng tâm tưởng. Cuộc hành trình này ắt hẳn dài hơn, chứa đựng nhiều mầm đau khổ hơn bởi sự chờ đợi luôn luôn là “liều thuốc” thử xác đáng nhất trong tình yêu.
Vẫn bằng âm hưởng ngậm ngùi của nhịp điệu thơ dội vào trong kết hợp với cấu trúc trùng điệp âm vận, nhà thơ diễn đạt thành công nội tâm qua những lời độc bạch:
Biết là sẽ nhớ
Biết là càng thương
Gửi bên bậc cửaChút tàn đuốc vương
Biết là càng thương
Biết là sẽ nhớ
Gửi bên vạt cỏ
Chút tàn đuốc vương
Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ lặp lại các câu thơ khiến chúng gần như cùng nghĩa và như vậy cảm giác thừa một khổ thơ, một điều không cần thiết. Bao giờ việc lặp lại như thế mục đích chính vẫn là nhấn mạnh. Ở đây là hoài niệm sâu lắng cho những phút giây đã qua và một niềm hy vọng mong manh mơ hồ cho tương lai.
Bài thơ được mở ra từ thời điểm đêm tối và giờ đây được khép lại bởi thời điểm buổi sáng-một vòng thời gian khép kín theo quy luật tự nhiên. Song song, thời gian tự nhiên là khép lại cuộc hành trình tình yêu khi mà:
Sáng ra chim núi
Nhặt hết tàn rơi
Em tôi dậy muộn
Lửa bay về trời
Người xưa có câu: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng”. Phải chăng câu chuyện tình dang dở mà nhà thơ Vi Văn Chôồng đã kể cũng nằm trong trường hợp trên? Dấu vết của tình yêu chỉ còn là những tàn lửa bay đi bốn phương trời. Dư âm, dư ảnh một đuốc lửa tình, của một hành trình không hết, nó vẫn vương vấn trong trái tim người một nỗi xót xa ngậm ngùi cho một cuộc tình dang dở.
VÂN HÀ
TÀN LỬA
Lập lòe đuốc lửa
Anh đi tìm em
Đi trọn một đêm
Đi tròn hai đêm
Lập lòe đuốc lửa
Đèn không sáng cửa
Biết em ngủ rồi
Anh dụi tắt lửa
Quay về đi thôi.
Biết là sẽ nhớ
Biết là càng thương
Gửi bên bậc cửa
Chút tàn đuốc vương
Biết là càng thương
Biết là sẽ nhớ
Gửi bên vạt cỏ
Chút tàn đuốc vương
Sáng ra chim núi
Nhặt hết tàn rơi
Em tôi dậy muộn
Lửa bay về trời