Tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta bằng không quân và hải quân từ năm 1964 đến năm 1972, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương gọi các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị) là “vùng cán xoong”. Trong đó, tỉnh Thanh Hóa được coi là đầu nút của “vùng cán xoong này” và khu vực cầu Hàm Rồng là điểm nóng nhất.
Khu vực cầu Hàm Rồng bao gồm thị xã Thanh Hóa, các xã Hoàng Long, Hoàng Lý thuộc huyện Hoằng Hóa, rộng khoảng 50 km2, có khoảng 10 vạn dân. Khu vực này không chỉ là trung tâm kinh tế, chính trị mà còn là một trọng điểm về quốc phòng-an ninh của tỉnh. Giới quân sự Mỹ cho rằng, từ Hà Nội vào đường Hồ Chí Minh có 60 điểm tắc, mà Hàm Rồng là một trong những điểm tắc lý tưởng vì nó là đầu nút của “vùng cán xoong”. Đánh phá Hàm Rồng sẽ ngăn chặn có hiệu quả việc chi viện sức người, sức của của hậu phương lớn miền Bắc XHCN cho chiến trường miền Nam. Chính vì sự lợi hại của đầu nút này, đế quốc Mỹ đã sử dụng các lực lượng không quân tổng hợp đánh phá Hàm Rồng liên tục và ác liệt.
Tại cuộc họp đầu năm 1965, các đồng chí lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa và lãnh đạo Bộ tư lệnh Quân khu 4 đã nhận định: trọng điểm đánh phá của địch vào Quân khu 4 lúc này là Thanh Hóa; còn với Thanh Hóa, trọng điểm đánh phá của địch là cầu Hàm Rồng. Bảo vệ được cầu Hàm Rồng là góp phần bảo vệ được mạch máu giao thông thông suốt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của cả nước. Để đánh thắng địch, bảo vệ được cây cầu, Tỉnh ủy, Ban chỉ huy Tỉnh đội đã tăng cường lãnh đạo các ngành, các cấp, các lực lượng trong tỉnh tích cực củng cố thế trận chiến tranh nhân dân, bổ sung phương án đánh địch, phát triển lực lượng phòng không. Tại các vùng phụ cận Hàm Rồng như Quảng Xương, thị xã Thanh Hóa, Hoằng Hóa..., tỉnh tổ chức các trạm báo động phòng không. Tỉnh thành lập ở mỗi huyện từ một đến hai trung đội dân quân, tự vệ (tập trung). Mỗi trung đội có từ 15 đến 20 người, trang bị đại liên, trung liên, súng trường... trực chiến bắn máy bay. Tỉnh thành lập hai đại đội cao xạ (bộ đội địa phương) hỗn hợp gồm súng cao xạ 37mm và 14,5mm, bảo vệ cầu Hàm Rồng và đập Bái Thượng. Trong năm, Thanh Hóa huấn luyện được 41.736 lượt cán bộ, công nhân, chiến sĩ dân quân, tự vệ biết sử dụng súng bộ binh bắn máy bay Mỹ; đào tạo hàng nghìn dân quân, tự vệ thành thạo các vị trí của pháo thủ cao xạ 37mm và 100mm, sẵn sàng thay thế pháo thủ phòng khi chiến đấu có tình huống xảy ra. Từ năm 1965 đến 1968, có 2.340 lượt chiến sĩ thay thế vị trí pháo thủ tại các trận địa của bộ đội phòng không bảo vệ cầu Hàm Rồng, cầu Tào, phà Ghép...
Đầu năm 1965, Bộ Tư lệnh Quân khu 3 đã điều 4 đại đội cao xạ 37mm của Trung đoàn 13 tăng cường cho Thanh Hóa bảo vệ cầu Hàm Rồng. Sau đó lại điều động hai đại đội: một 37mm, một 14,5mm (của Sư đoàn 304 và 350) về lập trận địa trên khu vực. Đầu tháng 3-1965, Bộ Tư lệnh Phòng không-Không quân tăng cường thêm cho Thanh Hóa Tiểu đoàn 14 cao xạ 37mm và 14,5mm phối hợp với các đơn vị của Quân khu 3 bảo vệ cầu Hàm Rồng. Tỉnh đội Thanh Hóa điều về Hàm Rồng một trung đội pháo 14,5mm và 2 tổ trung liên. Tiếp đó, do yêu cầu của cuộc chiến đấu, tỉnh thành lập thêm một số đơn vị cao xạ (bộ đội địa phương) bố trí trận địa chiến đấu tại khu vực Hàm Rồng.
|
Toàn bộ lực lượng phòng không ở khu vực Hàm Rồng được phân làm 5 cụm hỏa lực hỗn hợp, trong đó các đơn vị thị xã (nay là thành phố) Thanh Hóa được triển khai chiến đấu trên sân thượng các nhà cao tầng và các điểm cao quanh Hàm Rồng như: Nhà máy điện, Lò cao, 2 tổ trung liên trên núi Ngọc và núi Rồng, đồn cảnh sát nhân dân Hàm Rồng, Trạm Công an vũ trang... sẵn sàng bắn máy bay bay thấp và khi chúng lao xuống cắt bom. Để nhanh chóng hoàn chỉnh trận địa kịp thời đánh địch, Tỉnh ủy, Uỷ ban hành chính tỉnh, Tỉnh đội... đã huy động hàng vạn lao động ở các huyện Quảng Xương, Hoằng Hóa, thị xã Thanh Hóa, khu vực Hàm Rồng phối hợp với bộ đội đào đắp công sự, chiến hào. |
Mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại bắt đầu từ ngày 5-8-1964 và tiếp theo các đợt đánh phá Quảng Bình, đầu năm 1965 (10-3-1965), máy bay Mỹ bắn đạn 20mm xuống xã Hải Lĩnh, huyện Nông Cống và huyện Như Xuân. 8 giờ 45 phút sáng ngày 3-4-1965, đế quốc Mỹ cho 16 chiếc A4 và F8 đánh phá cầu Hàm Rồng lần thứ nhất, mở đầu cho hằng trăm đợt đánh phá vào các năm tiếp sau, nhằm cắt đứt đường vận chuyển lực lượng, hàng hóa vào chiến trường miền
Nam của ta. Từ 13 giờ ngày 3-4-1965 và trong suốt ngày mùng 4, giặc Mỹ liên tục cho máy bay bắn phá cầu Hàm Rồng. Chúng đã sử dụng đến 174 tốp, 454 chiếc máy bay phản lực đủ loại (F105, RF101, A4) liên tục quần đảo, đánh phá cầu. Quân và dân khu vực Hàm Rồng cảnh giác, không bị bất ngờ, đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội pháo cao xạ, bộ đội không quân, những đơn vị dân quân, tự vệ của các huyện Quảng Xương, Tĩnh Gia, Hoằng Hóa, Hà Trung... chiến đấu dũng cảm ngoan cường, bảo vệ mục tiêu. Trong hai ngày ra quân (3 và 4-4-1965), quân và dân Thanh Hóa đã bắn rơi 47 máy bay Mỹ, khiến cho dư luận Mỹ xôn xao, nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới khâm phục, động viên, khích lệ.
Trong 8 năm (1964-1972) chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, quân và dân Thanh Hóa đã chiến đấu kiên cường, chống trả máy bay Mỹ, bảo vệ cầu Hàm Rồng, giữ vững mạch máu giao thông. Quân và dân trong tỉnh đã phối hợp chiến đấu 9.938 trận, bắn rơi 376 máy bay Mỹ. Riêng quân và dân Hàm Rồng bắn rơi 99 chiếc, cây cầu được giữ vững, giao thông vận tải luôn thông suốt. Chiến công của quân và dân Thanh Hóa nói chung và của quân và dân khu vực Hàm Rồng nói riêng trong chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ là kết quả của đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn của Đảng; sự tổ chức, chỉ đạo linh hoạt sáng tạo và táo bạo của các cấp từ trung ương xuống các địa phương; sự hợp đồng chặt chẽ, chiến đấu dũng cảm, mưu trí của ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Chiến thắng đó đã để lại những bài học quý cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hôm nay, khi cuộc chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao đã được các thế lực hiếu chiến mang ra “thử nghiệm” ở một vài nơi trên thế giới./.
Hà Chu