QĐND - Men theo con đường nhỏ trải đầy đá dăm, chúng tôi về làng Đa Chất (xã Đại Xuyên, huyện Phú Xuyên, Hà Nội), vùng đất còn lưu giữ được hai "bảo bối" đó là nghề làm cối xay và ngôn ngữ của làng nghề.
Làng có nghề “độc”
Chúng tôi tìm gặp ông Nguyễn Văn Sớm, 80 tuổi, người có hơn 50 năm làm nghề đóng cối. Từ khi 19 tuổi, ông Sớm đã theo cha mình ngược xuôi khắp vùng Tây Bắc. Ông Sớm kể: “Theo cha 4 năm, tôi đã học làm cối, sau đó tôi làm thợ cả và dạy nghề cho các em trong làng”. Nói về nguồn gốc của nghề mà ông cha để lại, ông Sớm cho biết: “Cụ tổ của nghề làm cối xay bằng tre có tên là Đào Công Bột - người mãi tận vùng Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ) đã truyền nghề đóng cối xay cho làng. Ngài được tụng xưng là Trung Thành Đại Vương, là thành hoàng làng Đa Chất. Nghề làm cối được truyền từ đời này sang đời khác, những người thợ làm nghề muốn giữ gìn bí quyết riêng nên đã sáng tạo ra một loại ngôn ngữ riêng biệt. Câu nói “Sinh Bạch Hạc, thác Ba Lương” là để chỉ ông tổ nghề đặc biệt này.
 |
| Ông Nguyễn Văn Sớm (đội mũ) và ông Nguyễn Văn Đoán giới thiệu về chiếc cối danh bất hư truyền của làng Đa Chất. |
Ở thời kỳ chưa có máy xay xát chạy bằng điện thì những chiếc cối xay tre chính là công cụ thủ công vào loại thông dụng nhất. Những chiếc cối có hình trụ, được quấn nứa bao quanh, ôm chặt những chiếc dăm tre đan xếp từ thấp đến cao. Chỉ có một thanh gỗ là ngỗng cối ở chính giữa. Cối tre là công cụ thủ công để người nông dân xay lúa. Một chiếc cối xay tre tốt là khi hai phần cối hợp khớp với nhau, xoay trơn tru, hạt lúa được bóc vỏ đều mà không bị vỡ, không bị mất nhiều lớp phấn gạo dinh dưỡng, cơm nấu ngon dẻo hơn. Ngày nay, dù có “vòng xoáy” các máy xay xát hiện đại nhưng trong làng vẫn còn một số gia đình giữ được nghề.
Ngôn ngữ “độc” của làng
Là một trong 6 làng của xã Đại Xuyên, nhưng chỉ có làng Đa Chất là có thứ ngôn ngữ “độc nhất vô nhị” đi kèm với nghề đóng cối để giữ bí mật của nghề. Ví dụ: Lõng là làng, thợ cối (lõng vụ), làm cối là “xấn vụ”, làm nhà (xấn bện), đi đóng cối (sởn vụ), trời (xì thiên), đất (khích), giường nằm (tiêu), tiền (dùm)… “Do thường xuyên phải nay đây mai đó nên chúng tôi thường trao đổi với nhau bằng thứ tiếng này, cốt giữ bí mật của nghề”, ông Nguyễn Ngọc Đoán, 75 tuổi, người cao niên trong làng nói với chúng tôi như thế. Nói rồi, ông Đoán còn lấy cho chúng tôi xem cuốn Từ điển ngôn ngữ của làng Đa Chất do ông Chu Huy (hội viên Hội Ngôn ngữ Việt Nam) và Nguyễn Dấn (hội viên Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam) biên soạn năm 2008 để làm bằng chứng.
Hiện tại, ông Đoán trông coi ngôi đình cổ hơn 500 tuổi của làng Đa Chất, trong đó có chiếc cối xay được đặt ở đình làng, ông bảo: “Bây giờ nó được giữ làm kỷ vật trưng bày thôi, còn ai đó về làng muốn đặt làm cối thì chúng tôi mới làm. Mấy năm nay, chỉ có một số bảo tàng là nhờ chúng tôi làm, giữ chiếc cối như một phần của nền văn minh lúa nước. Vừa rồi, chúng tôi cũng làm cho mấy anh nghiên cứu sinh người Đức một cái cối, họ mang về châu Âu rồi”.
Khoa học công nghệ phát triển, máy xay xát ra đời và phổ biến ở khắp mọi nơi, nghề đóng cối xay không còn thịnh hành. Với dân làng Đa Chất, nghề làm thợ cối chỉ còn “vang bóng một thời”. Tuy vậy, hệ thống ngôn ngữ riêng của làng vẫn rất phong phú, được truyền từ đời này qua đời khác, các cụ già, người trung niên vẫn dạy, đám trẻ vẫn học. Và họ vẫn hằng ngày nói chuyện với nhau bằng “nội ngữ” ấy. Chia tay ngôi làng "độc nhất vô nhị" này, chúng tôi vẫn nhớ như in câu nói của các cụ trong làng Đa Chất: “Nghề có thể mai một nhưng tiếng nói của làng thì phải giữ”.
Bài và ảnh: LA DUY