Sau 4 năm kiên trì phục hồi và truyền dạy, với lối hát thờ (hát ở các cửa đình) CLB ca trù Thăng Long do hai nghệ nhân lão thành Nguyễn Phú Đẹ và Nguyễn Thị Chúc (đều ngoài 80 tuổi) thành lập đã nâng cấp thành Giáo phường ca trù Thăng Long-theo lối gọi xưa kia, khi nó đã hội tụ các yếu tố: Bảo tồn, biểu diễn và truyền dạy. Có mặt tại buổi ra mắt Giáo phường ca trù Thăng Long mới đây tại đình Giảng Võ, Hà Nội, Giáo sư Trần Văn Khê đã thốt lên rằng: Nhiều năm trước, tôi đã thấy những nụ non và tôi tin nó sắp thành quả, nhưng đến hôm nay, tôi có thể thẳng định rằng, những nụ non đó đã thành quả.
Không quản xa xôi, lại phải ngồi trên xe lăn, GS Trần Văn Khê nhận lời mời của các nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ, Nguyễn Thị Chúc và đào nương Phạm Thị Huệ, từ Thành phố Hồ Chí Minh ra để có mặt trong buổi lễ ra mắt Giáo phường ca trù Thăng Long. Ông lặng nghe và tâm sự những điều sâu thẳm.
 |
| Giáo sư Trần Văn Khê (người ngồi, thứ hai từ trái sang) dự lễ ra mắt Giáo phường ca trù Thăng Long |
Từ năm 2006, cái tên CLB ca trù Thăng Long được đông đảo người yêu ca trù biết đến. Đi từ những bước khởi đầu có ba người, không dưới 10 lần chuyển địa điểm để thực hiện công việc: Biểu diễn miễn phí ca trù cho nhân dân, đến nay ca trù Thăng Long đã có 30 “nhân sự” cả ca nương lẫn kép đàn và nâng cấp lên thành Giáo phường ca trù Thăng Long.
Hầu hết các ca nương của Giáo phường là sinh viên, trong đó có hai em 10 tuổi là nhỏ nhất, năm nay phải bớt thời gian nghỉ Tết vì “sô” diễn đầu tiên của Giáo phường là vào mồng 5 Tết tại đình Khương Trung, Hà Nội. Tiếp đó là các đình Ngãi Cầu, La Phù và Giang Xá… Liên tục trong tuần, Giáo phường đều có lịch diễn cho các đình làng của Hà Nội và các tỉnh lân cận. Những tiết mục đậm văn hóa dân gian, tốn bao công sức phục dựng và tập dượt nhưng theo chúng tôi được biết, làng nào trả cao lắm thì thù lao cho cả đoàn cũng chỉ bằng cát-xê cho một ca sĩ sao thuộc hàng trung bình đi hát hội nghị.
Đặc biệt, từ Xuân Canh Dần, làn điệu hát Giai lần đầu tiên ra mắt. Đây là tiết mục hát hiếm hoi trong ca trù dành cho giọng nam và chỉ dùng để hát thờ với nội dung bố cáo trời đất, cầu chúc dân an vật thịnh. Người trình diễn phải đứng vừa đàn vừa hát. Đảm trách tiết mục này là anh Phạm Đình Hoằng, theo học đàn đáy với cụ Nguyễn Phú Đẹ đã 5 năm nay.
Khi nghe xong làn điệu này, GS Trần Văn Khê ngạc nhiên mà nói rằng, làn điệu này khó hát lắm, trước kia tôi chỉ thấy ở trên giấy, từng xem qua ở một bộ phim tài liệu đã mờ, rồi được nghe cụ Phú Đẹ hát một lần, nay lại có một người trẻ hát nữa. Nghe giọng hát của các ca nương trẻ thì thấy rõ được cách truyền dạy đã có kết quả, nhìn gương mặt các em đã có sự say mê. Tre còn đó mà măng đã mọc, thật mừng cho ca trù của nước mình. Hy vọng sau này lối hát cửa đình sẽ được nhiều người biết đến. Có lẽ vì thế mà GS Trần Văn Khê cũng rất hoan nghênh việc lập lại các giáo phường ca trù, đó là lề lối, bởi theo ông, trong ca trù có được nhiều người thì mới họp thành giáo phường. Giáo phường không chỉ là nơi truyền dạy mà còn là sự kiểm nghiệm tính truyền thống, giữ gìn phong cách độc đáo của nghệ thuật và cũng là nơi biểu diễn. Càng có nhiều giáo phường ra đời, cũng đồng nghĩa với việc nhiều người đã có ý thức bảo tồn truyền thống, mở rộng hơn nữa và truyền dạy được vốn di sản của cha ông tới các thế hệ sau.
 |
| Ca trù đang có sự tiếp nối truyền thống đáng tin cậy |
Nét ca trù Thăng Long-là một tiết mục mới do ca nương Phạm Thị Huệ sáng tác trên chất liệu ca trù và được các ca nương biểu diễn trong lễ ra mắt Giáo phường, nhưng chờ sau khi các ca nương, đào đàn dứt lời, GS Trần Văn Khê đã thẳng thắn nhắc nhở: “Tiết mục này tôi nghe thấy có một vài tiết tấu của mấy loại đàn dân tộc (đàn tranh, nhị, nguyệt) làm cho ca trù có được màu sắc mới, nhưng tôi khuyên các em khoan cho rằng đó là nét đặc sắc, là mẫu mực, mà chỉ nên xem đó là sự thể nghiệm rồi xin ý kiến của các bậc tiền bối, nhà nghiên cứu rồi hẵng có định hướng phát huy nó hay không. Đi theo hướng mới, con đường mới là vô cùng chông gai mà chưa chắc đi đã gặp, tìm đã thấy, thậm chí còn té ngã. Vì vậy, các em nên cẩn thận, làm mới vốn cổ là con dao hai lưỡi, có thể đưa mình đến chỗ thật hay nhưng cũng có thể đưa đến những điều rất dở, thậm chí là phá vốn cổ”.
Theo thống kê của Cục Di sản văn hóa, số người biết đàn, hát, múa ca trù hiện chỉ còn hơn 760 người ở 14 tỉnh, thành phố gồm: Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Ðịnh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó có khoảng 510 đào nương và 250 kép đàn, người đánh trống chầu. Quả là còn quá ít ỏi cho một loại hình âm nhạc có bề dày từ nhiều thế kỷ như ca trù. Tuy nhiên, trong những bộn bề, hối hả của cuộc sống hiện đại ngày nay, sự ra đời một giáo phường ca trù theo lề lối của nó như Giáo phường ca trù Thăng Long không chỉ tạo nên một địa chỉ văn hóa mà còn là nơi giữ gìn ngọn lửa ca trù cho các thế hệ mai sau.
VƯƠNG HÀ