Nước là khởi nguồn của sự sống trên trái đất. Theo quan niệm của cư dân nông nghiệp, nước chính là tinh khí của cha Trời tưới nhuần lên mẹ Đất, và mẹ Đất giữ lấy để sản sinh, nuôi dưỡng muôn loài. Với người Việt xưa, mỗi làng ít nhất phải có một cái giếng để dùng chung.
Cho đến ngày nay, không ai biết cái giếng đầu tiên của người Việt xuất hiện khi nào, nhưng theo truyền thuyết thì có lẽ giếng Ngọc (thuộc quần thể Khu di tích Cổ Loa) là một trong những cái giếng cổ nhất, có niên đại hơn 2.000 năm, gắn với vương triều của An Dương Vương. Khu vực làng cổ Đường Lâm có nhiều vỉa tầng đá ong lộ thiên hoặc nằm sâu dưới lòng đất. Hầu hết các giếng cổ đều được đào trên nền đá ong bởi lớp đá này chính là máy lọc nước tự nhiên giữ lại được các kim loại nặng, cho nguồn nước sạch sẽ, trong mát.
Đình làng Mông Phụ là một trong những công trình tiêu biểu ở làng cổ Đường Lâm, được xây dựng vào năm 1684 (đời Vua Lê Hy Tông). Nghe các cụ cao niên trong làng kể lại, trước khi đình được xây cất, dân làng đào cái giếng trong khuôn viên để phục vụ việc hoàn thiện công trình. Giếng khá lớn, miệng được xây bằng những phiến đá ong nâu trầm, tạo nên nét đẹp cổ kính. Trải qua bao đời, dân làng gìn giữ sự trong sạch của giếng như giữ tấm lòng tôn kính với vị thành hoàng linh thiêng luôn che chở cho dân làng. Người dân trong làng chỉ xin nước giếng đình về phục vụ cho việc thờ tự, cơm nước, làm tương, tuyệt đối không được tắm giặt. Nhìn vào lòng giếng thấy nước luôn đầy, trong mát, đao mái đình vút cong soi bóng, từng đám mây trời bồng bềnh trôi qua... khiến những người đến nơi đây cảm nhận nhịp luân vũ của đất trời và những di biến của dòng lịch sử.
 |
Giếng cổ trong khuôn viên đình làng Mông Phụ thuộc làng cổ Đường Lâm. Ảnh: www.qdnd.vn
|
Rải rác ở các làng là giếng Hè, giếng Giang, giếng Sui..., những cái tên mang hồn vía thôn làng mộc mạc, thân thương. Chuyện làng nước khi an, lúc nguy; tình làng nghĩa xóm được vun trồng từ những lời chuyện trò, thăm hỏi. Bà mẹ kén dâu từ những lần lén nhìn đôi tay khéo léo kéo gầu nước, đôi vai mềm đặt đòn gánh, cái eo thon thả, đôi bắp chân ngần trắng theo nhịp bước của đứa gái mới lớn xóm bên. Trai gái nên duyên chồng vợ cũng từ những câu hẹn câu thề bên giếng nước đêm trăng để bao thế hệ người được sinh thành, tiếp nối mạch làng... Đông hay hè, đến làng cổ ghé gian hàng nước của bà lão ven đường, thưởng thức thanh kẹo vừng thơm ngậy, nhấp ngụm chè xanh ngát vị ruộng đồi, rủ rỉ hỏi chuyện, thế nào cũng được nghe câu: “Nước giếng Hè, chè Cam Lâm”. Đó là sự kết hợp vừa vặn giữa nước giếng Hè vừa trong vừa mát, chè Cam Lâm vừa chát vừa thơm.
Đặc biệt nhất là giếng Sữa ở chân đồi Cấm, thuộc thôn Cam Lâm, cách lăng Ngô Quyền khoảng 150 mét, bởi đây là cái giếng thiên tạo gắn với câu chuyện nhuốm màu huyền thoại. Tôi từng được ông lão chăn trâu bên chân đồi Cấm kể rằng, xa xưa, có bà lão nhặt được đứa bé ngồi khóc ven đường. Bà bế nó đi khắp nơi mà đứa bé không chịu nín. Khi đến chân đồi Cấm, bà dừng nghỉ chân. Bà cắm chiếc gậy xuống đất mềm, bỗng trào lên một dòng nước mát lành. Lấy nước cho đứa bé uống thì nó nín khóc, ngủ ngon lành. Bà ở lại, nuôi đứa bé lớn khôn. Khi bà qua đời, dân trong vùng lập miếu thờ, gọi là miếu Mẹ. Không biết từ bao giờ, những bà mẹ mất sữa đến đây xin nước về dùng đều hiệu nghiệm. Mạch nước ngày xưa giờ đã được quây lại bằng gạch đá ong, là một trong những cái giếng nhỏ nhất ở Đường Lâm.
Ngày nay, nước máy đã về đến từng gia đình ở Đường Lâm, nhưng giếng làng vẫn được người dân làng cổ nâng niu, gìn giữ như những bảo vật của làng.