QĐND - Những ngày này, quê tôi đang thi công lắp đặt đường ống nước máy về đến từng nhà. Nhà máy nước của riêng xã đầu tư mấy chục tỷ đồng. Bác tôi phấn khởi gọi con cháu về ăn mừng chuẩn bị có nước nhà máy, nước sạch, nước công nghiệp. Chà, làng ta sắp ăn nước như ở thành phố rồi. Chuyện nước ăn do đó được bác tua lại cho con cháu nghe để biết bao đời qua, cha, ông, cụ, kỵ, đã bới nước để ăn như thế nào.
Làng tôi hình thành như ghép từ ba cụm dân cư lại khá riêng biệt, gọi là ba xóm, hay ba ngõ cũng được. Từ khi bác còn nhỏ, cả làng ăn nước ở ba giếng hàng ngõ. Giếng xóm Khoai ở sát đường cái quan, cách chân tre khá xa. Đường kính giếng chừng ba mét. Xếp đá xanh phiến lớn từ dưới lên, trên miệng xây cổ bằng gạch đun bằng rạ vữa vôi cát. Gạch đun bằng rạ nên mỏng, mặt hơi rộng hơn hòn gạch chỉ bây giờ, còn gọi là gạch thất. Cạnh giếng có cây đề cổ thụ, chu vi gốc to gần bằng chu vi giếng. Nếu giếng có từ thời cây đề này thì tuổi giếng hàng nghìn năm chứ chẳng đùa. Vào dịp giáp Tết, người gánh nước tới tận khuya. Phải dùng nhiều, lại phải để dành ăn Tết. Mùa rét, giếng thiếu nước nên nhà nào cũng phải chầu chực đến khổ. Trai gái đi gánh nước phải chờ đến mức đủ tâm sự nên vợ nên chồng.
Chúng tôi nêu thắc mắc tại sao không đào giếng khơi, không xây bể hứng nước mưa ở nhà riêng lại cứ cả làng chung giếng, không sợ va chạm à? Bác cười chảy cả nước mắt giải thích từng điều lũ con cháu thắc mắc.
 |
| Ảnh minh hoạ: internet |
Sở dĩ nhà riêng không đào giếng là vì không dám đào, sợ động mạch. Thời Cao Biền đã cho đào giếng triệt mạch ở nhiều nơi. Riêng vùng Cổ Pháp sử sách ghi chép có 13 địa điểm. Sau có các nhà sư cao tăng cho lấp huyệt trồng cây lên khôi phục long mạch dần dần. Mãi về sau long mạch mới liền và xuất hiện nhà Lý trong lịch sử. Làng tôi hiện nay vẫn còn cái ao làng, theo truyền lại là ao triệt mạch. Cái ao cắt đứt cổ đường con rồng. Chuyện kể dài lắm, tóm tắt như sau: Thời xưa có ông trạng vinh quy bái tổ, dân làng tôi không tin ông đỗ trạng nên có nhiều việc làm xúc phạm kiểu bêu riếu kẻ dám nhận xằng định làm khổ dân. Trạng hận. Khi làm quan to mới sai đào ao triệt mạch nhằm không cho ai đỗ đạt vinh hiển nữa chỉ vì dân khinh mạn khoa bảng. Ao đào xong thì chính ông trạng bị triệt đầu tiên. Đang làm quan phụ chính triều đình bị biếm đi vào Thuận Quảng, nhưng mới đi đến sông Phúc Giang đã bị vua cho người đuổi theo bắt tự xử. Ông trạng làm thơ tuyệt mệnh rồi gieo mình xuống sông chết. Đúng sai thế nào không biết nhưng suốt thời khoa bảng làng tôi không có ai đỗ đạt gì cả. Đào động mạch có ghê không. Ông nội tôi chết trẻ cũng được cho là vì bạo gan đào chạm mạch. Ông tôi có sức khỏe, gánh vã hàng tạ như thường. Có lần về qua làng Bưởi Nồi thấy có hội vật liền đỗ gánh vào xin phá giải, chiếm luôn giải nhất mang về. Nhà đào ao cạnh đường Con Xà lấy nước tắm rửa cho tiện đỡ phải gánh nhiều. Ông cậy khỏe cứ đào phăm phăm quá tay chạm mạch khiến nước đùn lên ùng ục. Bà nội sợ quá gọi người đến lấp mạch giúp. Ông gạt đi thách quỷ thần có giỏi cứ đến vật nhau với ông xem ai được ai thua. Tất nhiên chẳng có chuyện gì xảy ra. Độ nửa năm sau, ông đi hàng xáo gánh thóc về gặp mưa rào bị cảm lạnh qua đời. Chuyện lời thách quỷ thần bấy giờ mới được dân làng nhắc đến mà sợ lè lưỡi cạch không ai dám đào chạm mạch nữa.
Một lý do khiến nhà riêng không đào nổi giếng là do không đủ lực mua đá về xếp làm thành giếng cho khỏi lở. Đất đồng chiêm không quấn tầm thì không chịu nổi. Thời xưa không có xi măng. Đến khi có xi măng, không sợ động mạch nào đã phổ biến lắm đâu. Phải đến thời khoán sản, giếng khơi gia đình mới khá phổ biến.
Việc không xây bể chứa cũng do không có xi măng kết cấu chắc. Xây bằng vôi cát, nước vẫn rò rỉ và phá vỡ tường thành bể. Khi có xi măng, vẫn ít nhà xây nổi bể chứa chỉ vì dân quá nghèo. Cả làng chỉ có vài nhà đủ lực xây nổi bể chứa. Đến nhà ngói hứng nước mưa cũng hiếm. Đành quấn mo cau vào thân cây cau hứng vào chum vào vại thôi. Chum vại cũng chả sắm được loại to, to lắm cũng chỉ hai gánh nước là cùng. Nước mưa quý đến mức chan cơm thay canh hoặc để dành giải khát khi đi làm nóng nực quá. Ngọt như đường phèn. Mát tỉnh người.
Giếng làng tôi bị phá khi đào sông. Con sông chạy qua giếng làm vỡ thành, đá tảng văng ra lòng sông làm chỗ đứng cho bọn trẻ tắm. Đứa không biết bơi chỉ dám bạ men ở hòn đá phía trong, chịu cảnh nước đục gà què ăn quẩn ven bờ. Hòn đá ngoài tất nhiên chỉ những đứa biết bơi độc chiếm. Chỉ riêng việc được xếp hàng danh dự đứng ở hòn đá ngoài đã khiến trẻ con cả làng biết bơi từ nhỏ. Gần hai mươi năm sau, cây đề cũng bị bật gốc rễ đổ kềnh trong một trận bão. Người khổng lồ mãi mãi không dậy được nữa. Nhưng hình bóng đại thụ vẫn tỏa mát trong tâm khảm người dân làng tôi.
Giếng làng bị phá cũng là thời dân không sợ đào sâu động mạch. Đã vài nhà dám đào giếng khơi, trong đó nhà tôi là một. Nhưng chỉ là giếng xếp gạch, mạch nước ngang nhiều, đục không dùng nổi. Thời khoán sản, nhà tôi quyết định đào lại giếng khác bằng cuốn tầm. Cái đầu tiên đào vào một thân gỗ to không xuyên nổi phải bỏ. Cái thứ hai chưa kịp hạ tầm đã bị vỡ mạch cũng phải bỏ. Cái thứ ba mới thành. Nước giếng khơi đồng chiêm quê tôi vàng lòe, giặt áo trắng một lần là ngả màu cháo lòng. Trước đây phải vợi nước vào bể để vài hôm cho lắng trong mới ăn. Sau mới biết cách lọc bằng xỉ than, cát vàng.
Đầu thập kỷ chín mươi của thế kỷ trước, làng tôi xuất hiện thợ khoan giếng từ Gia Lâm về. Nhà tôi lại là nhà khoan sớm nhất làng. Chỉ vì nhu cầu cần nhiều nước sạch để làm đậu phụ. Giếng khoan, bể lọc, bể chứa dùng thoải mái khiến giếng đào hết thời phải lấp đi cho an toàn. Tôi lấp nhưng vẫn đánh dấu vị trí để khi cần lại bới lên dùng.
Gần đây làng tôi xuất hiện mốt xây nhà tắm dưới bể nước, bể lọc để tiết kiệm đất. Nhà tôi lại cải cách bể một lần nữa. Vừa phá cũ xây mới xong thì nước máy gõ cửa. Bể chứa vẫn dùng được, nhưng bể lọc và giếng khoan có lẽ đến hồi cáo chung.
Mấy nghìn năm ăn nước tự nhiên. Một nghìn năm ăn nước giếng làng. Ba mươi năm ăn nước giếng khơi tự đào. Hai mươi năm ăn nước giếng khoan. Bây giờ là nước nhà máy, nước công nghiệp. Liệu nước nhà máy có dài mấy nghìn năm như thời cha ông cụ kỵ ăn nước tự nhiên không. Hay phát triển đến thời ăn nước đóng chai đắt như vàng giả đây.
Nhờ ông bác “tua” lại chuyện giếng làng mà tôi chép lại đủ mua vui hầu bạn đọc. Không biết chuyện làng tôi có giống làng bạn đọc không.
Tản văn của PHẠM THUẬN THÀNH