Chúng tôi lên Hà Giang, qua dốc chín khoang đỉnh trời lên Đồng Văn, từ Đồng Văn tới chiêm ngưỡng Lũng Cú. Theo nhà văn Cao Xuân Thái, nhà văn Nguyễn Tuân đã tới đây. Nguyễn Tuân đã buộc quả dọi treo trên bản đồ Việt Nam xem quả dọi có rơi đúng vào điểm Lũng Cú trên bản đồ không-Cao Xuân Thái rất mê và kính phục động tác có vẻ lập dị này của Nguyễn Tuân.
Đường từ thị xã Hà Giang lên Đồng Văn, xe đi mải miết từ sáng sớm đến chiều mới tới nơi. Đường đi cứ leo mãi, leo mãi, lên cao mãi, ngoắt ngéo, chênh vênh, những thung lũng sâu hút, cứ leo lên hết đợt mây trắng này đến đợt mây trắng khác. Đúng như nhà văn Cao Xuân Thái nói, cao nguyên đá hiện ra mênh mông, chỉ có đá và đá xếp chồng, xe đi mấy giờ đồng hồ vẫn chưa ra ngoài cao nguyên đá. Chúng tôi để ý thấy người dân ở đây đều gieo ngô vào từng kẽ đá, màu xanh mơn mởn của ngô điểm xuyết với màu đá xám kéo từ chân núi lên tận đỉnh núi. Tôi nghĩ những hạt ngô thu gặt được ở vùng này thật quý giá vô ngần. Ở nơi chỉ có đá và đá này, không chỉ có công sức mà phải có một ý chí, một tình yêu mãnh liệt mới tạo ra được mùa vụ và hoa trái.
Người dân vùng cao cần mẫn hiền hòa, không quan tâm lắm đến việc của người khác, họ đắm mê với mảnh đất của họ, dù thiên nhiên khắc nghiệt bày đặt cho họ bao khó khăn khắc nghiệt về địa lý.
Phiên chợ Đồng Văn mở ra cả một không khí và sắc thái hấp dẫn đặc biệt, chợ diễn ra mỗi tuần một phiên vào ngày chủ nhật, có nhiều anh em trong đoàn đêm không ngủ để chờ sáng sớm hôm sau đến chợ sớm. Chợ họp từ sáng sớm cho tới 2-3 giờ chiều thì bắt đầu vãn. Người già, người trẻ, gái, trai từ bản làng xa xôi từng tốp 2 đến 3 người đi bộ dồn về chợ. Chúng tôi gặp nhiều tốp người đi chợ trên tay còn cầm chiếc đèn pin, theo họ cho biết thì rất nhiều người bắt đầu đi chợ khởi hành từ 1-2 giờ sáng và phải đến 8-9 giờ sáng mới đến chợ được. Tôi thấy nhiều người đi chợ chỉ địu trên lưng một bó củi, có người dắt theo một con chó con, một con mèo con hoặc địu một gùi quả su su... Nhiều người đi không mang theo gì, nhất là đàn ông và nam thanh niên. Đa số họ đến để trao đổi, mua sắm và đi chợ để chơi là chính. Những dãy hàng làm bánh rán, xôi và mua bán lương thực gạo, ngô... rất tấp nập, đặc biệt là hàng rượu, hàng chục can rượu lớn nhỏ xếp chụm lại với nhau kéo thành một dãy dài, những chiếc ghế băng và bàn gỗ đơn giản sát đất, từng bát rượu rót trực tiếp từ can nhựa, họ ngồi uống rượu suông và nói chuyện với nhau chậm rãi. Khi chợ vãn, nhiều người say nằm lăn ngay ra nền chợ và ngủ. Điều khác dưới xuôi là rất nhiều người uống rượu và ai cũng say đến mức vừa đi vừa chúi xuống, hoặc nằm ngủ ngay trên nền chợ, nhưng không thấy một cuộc cãi cọ va chạm nào dù nhỏ, là một nét rất đáng kính trọng của văn hóa uống rượu vùng cao.
Chúng tôi hỏi một số người phụ nữ đứng chờ chồng tỉnh rượu để cùng trở về bản là tại sao không uống rượu ở nhà mà phải đến chợ để uống, phải chăng ở nhà không có rượu? Họ trả lời rằng uống rượu ở nhà không “có cái đông người”. Chợ đối với Đồng Văn và các địa phương vùng cao là ngày hội-một sinh hoạt văn hóa cộng đồng đẹp, sinh động và hấp dẫn. Nơi tập trung đậm đặc những nét đặc trưng văn hóa của vùng cao còn bảo lưu nguyên vẹn chưa bị văn minh đô thị và văn minh công nghiệp làm cho sai lệch. Người dân các bản làng xa xôi, một tuần lao động mệt nhọc, họ háo hức chờ đợi ngày diễn ra chợ phiên trong tuần. Chợ là nơi bày tỏ, gặp gỡ, trao đổi, giao lưu và đồng thời cũng là nơi tỏ tình của thanh nam, thanh nữ.
Có những việc vô tình chúng tôi gặp ở Đồng Văn và không quên được, đó là trên quốc lộ của Đồng Văn trong đêm rất vắng, những người đi đường đến gần vạch báo hiệu đèn đỏ, họ vẫn tự giác dừng lại chờ đèn xanh mới đi tiếp. Việc này người thành phố chưa chắc đã...
Chúng tôi lưu lại Đồng Văn một thời gian thật ngắn ngủi. Điều duy nhất gờn gợn trong tôi là người dân còn ít biết tiếng Kinh, tôi muốn hỏi mua một vài loại củ cây thuốc nhưng vì họ không biết tiếng Kinh nên không thể mua được. Những người biết tiếng Kinh là rất ít, đa số là người đã gắn ít nhiều với nghề buôn bán mới sõi tiếng Kinh.
Trên đường trở về, chúng tôi qua đỉnh Mã Pí Lèng dừng lại nơi đặt tấm bia ghi công những người đã mở con đường này trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ngắm dòng sông Nho Quế uốn lượn xa tít dưới thung lũng mênh mông sâu thẳm bên vách đá dựng ngang trước mặt như mời gọi nhát bút trổ lên đá những bài cổ thi. Chúng tôi vòng qua Mèo Vạc, nơi đây có vẻ sầm uất trù phú hơn, tôi có mua một cây đèn dầu ở Mèo Vạc làm kỷ niệm. Cây đèn đang tỏa lên vầng sáng trước mặt tôi và chợt hiện lên những đôi chân của người dân vùng cao, bước đều thẳng, dứt khoát đầy tự tin.
DƯƠNG KIỀU MINH